Quy định Pháp luật và Thực tiễn Áp dụng về Giám định, Trưng cầu Giám định trong Thủ tục Hải quan đối với Hàng hóa Xuất nhập khẩu tại Việt Nam

:backhand_index_pointing_right: Bấm vào đây để xem và tải văn bản gốc


Quy định Pháp luật và Thực tiễn Áp dụng về Giám định, Trưng cầu Giám định trong Thủ tục Hải quan đối với Hàng hóa Xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Giới thiệu chung và Bối cảnh Pháp lý vĩ mô

Sự phát triển bùng nổ của thương mại quốc tế, sự đa dạng hóa của các chuỗi cung ứng toàn cầu cùng quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng đã đặt ra cho hệ thống quản lý nhà nước về hải quan tại Việt Nam những thách thức quản trị vô cùng to lớn và phức tạp. Một mặt, cơ quan hải quan mang trên vai trọng trách phải đảm bảo tạo thuận lợi tối đa cho các luồng lưu chuyển hàng hóa xuyên biên giới, giảm thiểu chi phí logistics, cắt giảm thời gian thông quan nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mặt khác, yêu cầu cốt tử về bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia, ngăn chặn rác thải môi trường, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống gian lận thương mại và đặc biệt là đảm bảo không thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước đòi hỏi các biện pháp kiểm tra, giám sát phải ngày càng tinh vi, chính xác và có cơ sở khoa học vững chắc. Trong bối cảnh giao thoa giữa hai yêu cầu có vẻ như đối lập này, hoạt động kiểm tra chuyên môn đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đặc biệt là cơ chế trưng cầu giám định độc lập, đã vươn lên trở thành một công cụ pháp lý và kỹ thuật cốt lõi, không thể thiếu trong hệ sinh thái thủ tục hải quan hiện đại.

Trưng cầu giám định trong thủ tục hải quan được hiểu là một quá trình tố tụng hành chính đặc thù, trong đó cơ quan hải quan quản lý địa bàn hoặc chính người khai hải quan chủ động yêu cầu một tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định thương mại độc lập, có tư cách pháp nhân và năng lực chuyên môn nghiệp vụ được nhà nước công nhận, tiến hành kiểm tra, thử nghiệm, phân tích, đánh giá các chỉ tiêu về kỹ thuật, chất lượng, thành phần lý hóa, chủng loại, mã số, xuất xứ, hoặc trị giá của một lô hàng cụ thể.1 Kết quả của quá trình lao động khoa học này được kết tinh lại dưới hình thức một “chứng thư giám định”. Chứng thư này không chỉ đơn thuần là một bản báo cáo kết quả phòng thí nghiệm mà còn đóng vai trò là nguồn chứng cứ pháp lý mang tính quyết định, làm cơ sở nền tảng để cơ quan quản lý nhà nước về hải quan đưa ra các quyết định hành chính trọng yếu như chấp nhận thông quan, ấn định mức thuế suất, giải phóng hàng hóa, hoặc làm căn cứ để xử lý các vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp phát hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.1

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giám định và trưng cầu giám định hải quan hiện nay tại Việt Nam được xây dựng một cách lớp lang, có hệ thống, dựa trên nền tảng tối cao của Luật Hải quan năm 2014.4 Đạo luật này thiết lập nguyên tắc chuyển đổi từ phương thức kiểm tra toàn bộ, thủ công sang phương thức quản lý rủi ro, áp dụng sâu rộng công nghệ thông tin thông qua việc vận hành Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan tập trung (hệ thống VNACCS/VCIS do Nhật Bản tài trợ và chuyển giao).6 Để cụ thể hóa các nguyên tắc mang tính định khung của Luật Hải quan 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 59/2018/NĐ-CP, quy định vô cùng chi tiết về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.1 Ở cấp độ hướng dẫn chi tiết về mặt nghiệp vụ, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 38/2015/TT-BTC và Thông tư số 39/2018/TT-BTC, tạo thành một hệ thống quy phạm đồng bộ, đồ sộ, điều chỉnh từng thao tác nghiệp vụ nhỏ nhất từ việc ban hành quyết định lấy mẫu, kỹ thuật niêm phong mẫu, lưu mẫu, cơ chế giải quyết bất đồng, đến việc ấn định chi phí và thiết lập trình tự xử lý khiếu nại của người dân và doanh nghiệp.9

Sự ra đời và liên tục hoàn thiện của các văn bản pháp luật này không chỉ nhằm nội luật hóa các cam kết quốc tế khắt khe mà Việt Nam đã ký kết (điển hình như Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại của WTO, Công ước Kyoto sửa đổi về hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan, Hệ thống Hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa - HS Code của Tổ chức Hải quan Thế giới) mà còn nhằm giải quyết bài toán xung đột lợi ích nội tại giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu.12 Việc luật hóa một cách minh bạch, chi tiết quy trình trưng cầu giám định đã tạo ra một cơ chế giám sát chéo hiệu quả, giảm thiểu tối đa sự tùy tiện, cảm tính trong các quyết định hành chính của công chức hải quan, đồng thời trao cho cộng đồng doanh nghiệp một vũ khí pháp lý sắc bén - đó là quyền tự chứng minh, quyền đối nghị và quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình thông qua sự can thiệp khách quan của các đơn vị giám định độc lập.2

Bản chất Pháp lý, Phân loại Hoạt động Kiểm tra và Giám định Hải quan

Để thấu hiểu tường tận cơ chế trưng cầu giám định và không rơi vào bẫy nhầm lẫn thuật ngữ trong quá trình thực thi pháp luật, cộng đồng doanh nghiệp cũng như giới nghiên cứu pháp lý cần phân định rạch ròi giữa các khái niệm kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong hoạt động kiểm tra thực tế hàng hóa của ngành hải quan. Các hoạt động này tuy đều hướng tới một mục đích chung cao nhất là xác định chính xác bản chất thực tế của hàng hóa để từ đó áp dụng đúng chính sách mặt hàng và chính sách thuế, nhưng lại có sự khác biệt căn bản về chủ thể thực hiện, quy trình, nền tảng kỹ thuật và quan trọng nhất là giá trị pháp lý của kết quả đầu ra.

Kiểm tra Thực tế Hàng hóa và Phân tích Phân loại Nội ngành

Kiểm tra thực tế hàng hóa là thao tác nghiệp vụ hành chính do chính lực lượng công chức hải quan trực tiếp thực hiện tại các khu vực giám sát hải quan. Hoạt động này có thể được tiến hành thông qua phương pháp kiểm tra thủ công (công chức hải quan trực tiếp mở container, đếm số lượng, đối chiếu nhãn mác) hoặc thông qua việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại không xâm nhập (như hệ thống máy soi chiếu tia X quy mô lớn tại các cảng biển quốc tế, cảng hàng không, cửa khẩu biên giới đường bộ).1 Theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, việc quyết định một lô hàng có phải chịu sự kiểm tra thực tế hay không, và mức độ kiểm tra là bao nhiêu phần trăm, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của công chức tiếp nhận hồ sơ mà hoàn toàn được quyết định bởi hệ thống phân tích thông tin quản lý rủi ro tập trung của Tổng cục Hải quan.1 Việc kiểm tra đối chiếu này nhằm xác nhận sự phù hợp giữa thực trạng hàng hóa và các thông tin mà người khai hải quan đã truyền lên hệ thống qua hồ sơ điện tử.

Tuy nhiên, giới hạn của việc kiểm tra bằng mắt thường hoặc qua hình ảnh soi chiếu tia X bộc lộ rất rõ khi phải đối mặt với các mặt hàng có cấu tạo phức tạp, hàng hóa thuộc nhóm hóa chất, linh kiện điện tử chuyên dụng, hợp kim đặc chủng, nguyên liệu dệt may đa thành phần hoặc các sản phẩm sinh học. Đối với những mặt hàng này, cơ quan hải quan không thể tự mình đưa ra kết luận về thành phần lý hóa cấu tạo nên sản phẩm, công dụng cụ thể, từ đó không thể xác định chính xác mã số hàng hóa (HS code) hay mức thuế suất nhập khẩu tương ứng cần áp dụng.11 Trong những tình huống bế tắc về mặt kỹ thuật này, cơ quan hải quan sẽ tiến hành một thủ tục mang tính nội bộ gọi là “phân tích để phân loại”.11

Quá trình “phân tích để phân loại” là một hoạt động vận hành hoàn toàn bên trong hệ thống của ngành hải quan. Quy trình này được hướng dẫn chi tiết tại Quyết định số 2166/QĐ-TCHQ năm 2021 của Tổng cục Hải quan.14 Theo đó, mẫu hàng hóa sau khi được trích xuất từ lô hàng thực tế tại cửa khẩu sẽ được Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục đóng gói, niêm phong và gửi kèm hồ sơ yêu cầu phân tích về Cục Kiểm định Hải quan (hoặc các Chi cục Kiểm định Hải quan khu vực trực thuộc Tổng cục).14 Tại đây, các chuyên viên phân tích của hải quan sẽ sử dụng hệ thống phòng thí nghiệm chuyên dụng để tìm ra bản chất vật lý, hóa học của hàng hóa. Dựa trên kết quả phân tích này, cơ quan hải quan sẽ ban hành “Thông báo kết quả phân tích kèm mã số hàng hóa”. Hoạt động này chủ yếu nhằm mục đích ấn định thống nhất mã số HS trong toàn hệ thống dựa trên Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam hiện hành.12

Trưng cầu Giám định Độc lập bên thứ ba

Khác biệt hoàn toàn với quá trình phân tích phân loại nội bộ nêu trên, “trưng cầu giám định” là quá trình mà cơ quan hành chính nhà nước hoặc người dân viện đến sự trợ giúp chuyên môn của một bên thứ ba hoàn toàn độc lập – đó là các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thương mại đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam.1 Hoạt động trưng cầu giám định độc lập này thường phát sinh trong hai hoàn cảnh pháp lý chính yếu, phản ánh sự tương tác đa chiều trong quản lý nhà nước:

Hoàn cảnh thứ nhất xuất phát từ sự thiếu hụt năng lực kiểm định nội tại của chính cơ quan hải quan. Dù được đầu tư lớn, hệ thống kiểm định của hải quan vẫn không thể bao phủ toàn bộ mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật chuyên sâu trên thế giới. Khi cơ quan hải quan nhận thấy hệ thống phòng thí nghiệm của mình không được trang bị đủ thiết bị đặc thù, hoặc không có chuyên gia sở hữu năng lực đánh giá các chỉ tiêu quá chuyên biệt của lô hàng (chẳng hạn như việc giám định xác định số năm tuổi thọ chính xác của một dây chuyền máy móc, thiết bị công nghiệp đã qua sử dụng nhập khẩu; giám định tiêu chuẩn môi trường đối với phế liệu nhập khẩu; giám định quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa nghi ngờ xâm phạm nhãn hiệu; hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành y tế, an toàn thực phẩm phức tạp), cơ quan hải quan sẽ chủ động lập Phiếu trưng cầu giám định (Mẫu số 05/TCGĐ/2021) gửi ra các trung tâm giám định uy tín bên ngoài.14

Hoàn cảnh thứ hai, mang ý nghĩa tranh tụng hành chính sâu sắc hơn, là quá trình trưng cầu giám định xuất phát từ quyền chủ động yêu cầu của chính người khai hải quan. Theo quy định tại Điều 30 Nghị định 08/2015/NĐ-CP và khoản 19 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC, khi người khai hải quan nhận được kết luận kiểm tra, hoặc thông báo kết quả phân tích phân loại của cơ quan hải quan nhưng cảm thấy không thỏa đáng, không đồng ý với kết quả áp mã số HS, kết quả xác định chủng loại, chất lượng, hoặc trị giá hải quan mà cơ quan nhà nước áp đặt, họ được trao quyền tự do lựa chọn một cơ quan, tổ chức giám định độc lập để tiến hành giám định lại toàn bộ lô hàng nhằm bảo vệ lập luận của mình.1

Sự hiện diện và tham gia của tổ chức giám định độc lập trong hoàn cảnh thứ hai này mang đậm tính chất cung cấp nguồn chứng cứ đối kháng khách quan nhằm bác bỏ lại nhận định ban đầu mang tính áp đặt của cơ quan hành chính nhà nước. Việc pháp luật phân định rõ ràng các khái niệm này có ý nghĩa thực tiễn sống còn. Nó không chỉ định hình quy trình thủ tục mà còn là cơ sở pháp lý duy nhất để xác định xem chủ thể nào (cơ quan nhà nước hay doanh nghiệp) phải chịu trách nhiệm xuất toán chi phí giám định, đồng thời vạch ra lộ trình giải quyết khiếu nại, tố tụng nếu có phát sinh tranh chấp kéo dài tại tòa án. Quyết định trưng cầu giám định, do đó, vượt ra khỏi khuôn khổ của một thủ tục hành chính thuần túy, trở thành điểm giao thoa tinh tế giữa pháp luật hành chính (thể hiện quyền lực nhà nước trong quản lý hải quan) và pháp luật dân sự - thương mại (thể hiện qua hợp đồng cung ứng dịch vụ giám định và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu kết quả giám định sai lệch).18

Trình tự, Thủ tục Lấy mẫu và Lưu mẫu Trưng cầu Giám định

Trong toàn bộ chu trình giám định, quy trình lấy mẫu vật hiện trường được coi là mắt xích nhạy cảm, mong manh và dễ làm nảy sinh các tranh chấp pháp lý gay gắt nhất. Tính đại diện, tính khách quan, trung thực và sự nguyên vẹn tuyệt đối của mẫu vật có tác động quyết định, mang tính sống còn đối với sự chính xác của chứng thư giám định được ban hành sau này. Bất kỳ một sai sót nhỏ nào trong quá trình thao tác, hoặc một khe hở trong khâu bảo quản niêm phong cũng có thể làm sai lệch hoàn toàn bản chất hàng hóa, dẫn đến những quyết định hành chính sai lầm gây thiệt hại hàng tỷ đồng. Nhận thức rõ mức độ rủi ro này, pháp luật hải quan Việt Nam đã xây dựng và quy định một trình tự vô cùng nghiêm ngặt, chi tiết đối với từng thao tác nghiệp vụ cấu thành nên quá trình lấy mẫu.

Điều kiện Khởi phát và Thẩm quyền Quyết định Lấy mẫu

Thẩm quyền quyết định việc lấy mẫu hàng hóa thuộc về Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi có yêu cầu tiến hành kiểm tra (thông thường là Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc Chi cục trưởng Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu nơi doanh nghiệp đăng ký mở tờ khai).10 Cần đặc biệt nhấn mạnh rằng, quyết định lấy mẫu này không được phép ban hành một cách tùy tiện, tràn lan theo cảm tính cá nhân của công chức thực thi. Theo chỉ đạo quyết liệt từ Tổng cục Hải quan (điển hình qua Công văn 584/TCHQ-GSQL), việc lấy mẫu phải dựa trên các căn cứ pháp lý và thực tiễn rõ ràng: lô hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan; lô hàng thuộc luồng đỏ bắt buộc phải kiểm tra thực tế dựa trên sự phân tích, đánh giá rủi ro của hệ thống điện tử trung tâm; lô hàng thuộc danh mục mặt hàng có cấu tạo phức tạp không thể nhận biết bằng mắt thường; hoặc việc lấy mẫu được thực hiện theo yêu cầu bắt buộc của các cơ quan quản lý chuyên ngành khác.19

Về không gian thực hiện, việc lấy mẫu được ưu tiên tiến hành ngay tại địa điểm đang lưu giữ hàng hóa nằm trong khu vực chịu sự giám sát của cơ quan hải quan (như cầu cảng biển, bãi container, kho hàng không, kho ngoại quan, địa điểm tập kết hàng lẻ LCL).11 Tuy nhiên, pháp luật cũng thể hiện sự linh hoạt đáng kể đối với một số loại hình hàng hóa đặc thù có khối lượng khổng lồ, tính chất lý hóa nguy hiểm hoặc đòi hỏi điều kiện bảo quản khắt khe không thể lưu giữ lâu tại cửa khẩu (như hàng rời than, quặng; nguyên liệu hóa chất lỏng; nguyên liệu nhập khẩu phục vụ gia công, sản xuất xuất khẩu). Đối với những trường hợp này, việc lấy mẫu có thể được thực hiện trực tiếp tại chân công trình, cơ sở sản xuất, hoặc nhà máy của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 102 Thông tư 38/2015/TT-BTC.11 Doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng cảng biển, kho, bãi mang trên mình trách nhiệm pháp lý phải phối hợp chặt chẽ, bố trí không gian, địa điểm an toàn, lắp đặt hệ thống chiếu sáng, camera giám sát và cung cấp trang thiết bị cơ giới hỗ trợ để phục vụ việc kiểm tra và lấy mẫu của cơ quan hải quan một cách thuận lợi nhất.1

Nguyên tắc Đa phương và Quy trình Kỹ thuật Lấy mẫu tại Hiện trường

Khi bước vào khâu thao tác thực tế để lấy mẫu phục vụ mục đích phân tích, phân loại hoặc trưng cầu giám định độc lập, nguyên tắc bất di bất dịch mang tính giáo khoa là phải có sự hiện diện chứng kiến và ký xác nhận của đa phương. Thành phần tham gia bắt buộc phải bao gồm: đại diện cơ quan hành chính nhà nước (công chức hải quan), đại diện chủ sở hữu hàng hóa (người khai hải quan hoặc người được ủy quyền hợp pháp), và đại diện của tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định (nếu lô hàng đó có sự tham gia của bên thứ ba được trưng cầu ngay từ đầu).10 Trường hợp việc lấy mẫu được thực hiện theo yêu cầu kiểm tra chuyên ngành thì bắt buộc phải có thêm sự hiện diện của cán bộ cơ quan quản lý chuyên ngành tương ứng.17 Sự hiện diện của tất cả các bên liên quan nhằm mục đích tạo lập cơ chế giám sát chéo, đảm bảo tính minh bạch tuyệt đối, ngăn chặn từ trong trứng nước các hành vi gian lận, đánh tráo mẫu vật, hoặc làm sai lệch hiện trạng thực tế của hàng hóa.

Xét về chi tiết thao tác, đối với trường hợp người khai hải quan chủ động đề nghị được lấy mẫu trước để lấy thông tin phục vụ việc khai báo mã số, tên hàng chính xác thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, người khai hải quan sẽ trực tiếp thực hiện hành vi lấy mẫu từ chính lô hàng nhập khẩu của mình.11 Tuy nhiên, hành vi này phải được đặt dưới sự giám sát trực tiếp, không rời mắt của công chức hải quan.11 Lãnh đạo Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa có trách nhiệm phân công công chức giám sát toàn bộ quá trình này. Sau khi hoàn tất việc lấy mẫu, công chức hải quan có nhiệm vụ xác nhận tính hợp lệ trên 01 bản in “Thông báo đề nghị lấy mẫu” của người khai hải quan và ngay lập tức cập nhật kết quả giám sát lấy mẫu lên hệ thống VNACCS/VCIS.11 Một quy định mang tính bảo vệ tài sản của doanh nghiệp là lượng mẫu được lấy phải tuân thủ nguyên tắc “vừa đủ” để thực hiện các phương pháp thử nghiệm phòng thí nghiệm cần thiết. Đáng chú ý hơn, toàn bộ khối lượng hoặc thể tích mẫu do doanh nghiệp rút ra này vẫn được cơ quan hải quan tính toán cộng gộp vào tổng lượng hàng hóa thực tế khi thực hiện khâu kiểm tra định mức và tính thuế trong quá trình thông quan sau đó, đảm bảo không có sự sai lệch về mặt quản lý số lượng.11

Về mặt hồ sơ pháp lý hiện trường, mọi quá trình thao tác lấy mẫu đều phải được hệ thống hóa và ghi nhận bằng văn bản mang tính pháp lý cao nhất, đó là “Biên bản chứng nhận lấy mẫu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” (được thiết kế theo Mẫu số 08/BBLM/GSQL quy định tại Phụ lục IV hoặc Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư 38/2015/TT-BTC).10 Mẫu vật ngay sau khi được chiết xuất ra khỏi kiện hàng gốc phải được đóng gói vào bao bì chuyên dụng và tiến hành niêm phong kẹp chì hải quan ngay tại hiện trường. Nhãn niêm phong dán trên mẫu vật phải ghi rõ thông tin tờ khai, loại hàng, và phải có đầy đủ chữ ký tươi của công chức hải quan giám sát cũng như đại diện doanh nghiệp. Khi tiến hành bàn giao mẫu vật này cho tổ chức giám định độc lập hoặc trung tâm phân tích, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập một “Biên bản bàn giao mẫu” riêng biệt. Biên bản này ghi nhận rõ tình trạng niêm phong lúc giao nhận, có chữ ký xác nhận của bên giao và bên nhận, từ đó đảm bảo chuỗi hành trình chứng cứ (chain of custody) không bị phá vỡ hay nghi ngờ về tính xác thực.10 Cơ quan hải quan có thể trực tiếp chuyển mẫu qua đường bưu điện chuyên dụng hoặc ủy quyền bằng văn bản cho chính người khai hải quan tự tay mang mẫu và hồ sơ tới cơ quan giám định.17

Quyền Yêu cầu Tách Mẫu Lưu và Cơ chế Tự bảo vệ của Doanh nghiệp

Một trong những điểm sáng rực rỡ nhất mang tính đột phá trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp theo quy định hiện hành (được củng cố và làm rõ bởi Thông tư 39/2018/TT-BTC) là việc thiết lập “quyền yêu cầu tách mẫu lưu”.2

Thực tiễn thương mại cho thấy, khi cơ quan hải quan tiến hành lấy mẫu để đưa về phòng thí nghiệm nội bộ phân tích và ban hành Thông báo kết quả phân loại kèm mã số hàng hóa, rất nhiều trường hợp doanh nghiệp nhận thấy kết quả này hoàn toàn đi ngược lại với tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất gốc, áp đặt một mã HS có mức thuế suất nhập khẩu cao hơn một cách không thuyết phục. Đứng trước nguy cơ bị truy thu thuế hàng tỷ đồng, pháp luật trao cho doanh nghiệp một lối thoát. Doanh nghiệp có quyền lập tức gửi văn bản chính thức đề nghị đơn vị kiểm định hải quan đã thực hiện phân tích tiến hành tách một phần mẫu vật hiện đang được lưu trữ trong kho bảo quản của cơ quan hải quan để doanh nghiệp mang đi gửi giám định độc lập tại các trung tâm giám định danh tiếng bên ngoài (như Quatest, SGS, Intertek…).2

Quy trình tách mẫu tại kho lưu của hải quan cũng đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ y như lúc lấy mẫu ban đầu. Cơ quan hải quan sẽ thực hiện tách mẫu lưu dưới sự chứng kiến của doanh nghiệp và thiết lập một “Biên bản tách mẫu lưu” (theo Mẫu số 08a/BBTM/GSQL quy định tại Phụ lục V ban hành kèm Thông tư 39/2018/TT-BTC).2 Tuy nhiên, quyền năng này đi kèm với một ràng buộc khắc nghiệt về mặt thời gian: Doanh nghiệp chỉ có quỹ thời gian giới hạn là 30 ngày (tính từ ngày ký biên bản tách mẫu lưu) để tiến hành mọi thử nghiệm độc lập và nộp lại chứng thư kết quả giám định cho cơ quan hải quan.2 Đây là một cuộc chạy đua với thời gian, bởi nhiều phương pháp phân tích sâu đòi hỏi quá trình ủ mẫu hoặc nuôi cấy kéo dài nhiều tuần lễ. Nếu vượt quá ranh giới 30 ngày này mà doanh nghiệp không thể cung cấp kết quả giám định đối kháng hợp lệ, quyền bảo vệ tự động mất hiệu lực, cơ quan hành chính hải quan sẽ đương nhiên sử dụng kết quả phân tích nội bộ ban đầu đã ban hành để thực hiện các thủ tục áp thuế, ấn định thuế tiếp theo mà không chấp nhận thêm bất kỳ sự phản biện nào.2

Về thời hạn lưu giữ bảo quản mẫu, Điều 19 Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan hải quan là phải thực hiện việc lưu trữ bảo quản an toàn đối với các mẫu hàng hóa xuất nhập khẩu đã lấy để trưng cầu giám định trong thời hạn 120 ngày (tính từ ngày đăng ký tờ khai hải quan điện tử).10 Việc quy định một khoảng thời gian lưu giữ kéo dài lên tới 4 tháng này mang ý nghĩa chiến lược: nó đảm bảo tính khả thi cho toàn bộ quá trình giải quyết khiếu nại hành chính, tạo cơ hội cho phép các cơ quan có thẩm quyền cấp cao hơn (như Tổng cục Hải quan, Thanh tra Bộ Tài chính) hoặc Tòa án lật lại hồ sơ vụ việc và tiến hành giám định lại một lần nữa nếu phát sinh tranh chấp kéo dài khó phân giải. Khi hết thời hạn 120 ngày quy định, việc hoàn trả lại mẫu cho doanh nghiệp hoặc đưa đi tiêu hủy (đối với mẫu hóa chất độc hại, mẫu thực phẩm phân hủy) sẽ được thực hiện bài bản theo quy chế quản lý tài sản nhà nước và các quy trình kỹ thuật chuyên ngành do Bộ Tài chính ban hành.10

Yếu Tố Cốt Lõi Trong Quy Trình Lấy Mẫu Quy Định Chi Tiết Pháp Luật Hải Quan Hiện Hành
Thẩm quyền ra quyết định Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi tiếp nhận hồ sơ hoặc trực tiếp kiểm tra hàng hóa
Thành phần chứng kiến bắt buộc Đại diện cơ quan hải quan giám sát, Chủ hàng (Người khai hải quan), Đại diện tổ chức giám định độc lập (nếu có tham gia)
Hồ sơ pháp lý lập tại hiện trường Biên bản lấy mẫu (Mẫu 08/BBLM/GSQL), Biên bản tách mẫu lưu (Mẫu 08a/BBTM/GSQL)
Phương thức bảo vệ tính toàn vẹn Đóng gói, niêm phong hải quan tại chỗ, có đầy đủ chữ ký tươi của các bên lên nhãn niêm phong
Thời hạn nộp kết quả đối kháng Tối đa 30 ngày kể từ ngày hai bên ký biên bản thực hiện tách mẫu lưu
Thời hạn hải quan lưu trữ mẫu Tối thiểu 120 ngày kể từ ngày doanh nghiệp đăng ký tờ khai hải quan

Giải Phóng Hàng Hóa: Biện Pháp Quản Trị Rủi Ro Đứt Gãy Chuỗi Cung Ứng

Một trong những rủi ro kinh hoàng nhất đối với bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu khi lô hàng của họ bị hải quan chỉ định dừng lại để lấy mẫu trưng cầu giám định, đó là thời gian chờ đợi. Quy trình vận chuyển mẫu, chờ đợi phòng thí nghiệm phân tích, lập chứng thư và gửi trả kết quả hành chính có thể kéo dài từ 5 ngày đến 20 ngày làm việc (thậm chí lâu hơn đối với các phương pháp thử nghiệm phức tạp).22 Sự ngưng trệ này dẫn đến việc hàng hóa phải nằm phơi nắng phơi sương tại cảng, kéo theo chi phí lưu container (demurrage) và chi phí lưu bãi (detention) tăng vọt theo cấp số nhân từng ngày.23 Trầm trọng hơn cả những thiệt hại trực tiếp bằng tiền, đó là nguy cơ đứt gãy toàn bộ chuỗi cung ứng: nhà máy thiếu nguyên liệu phải dừng dây chuyền sản xuất, công nhân ngừng việc, đối tác nước ngoài phạt vi phạm hợp đồng (Liquidated damages) vì giao hàng trễ hẹn, uy tín thương hiệu bị tàn phá nặng nề.24

Nhận thức được tác động tiêu cực tàn phá của độ trễ thủ tục hành chính đối với dòng chảy kinh tế, các nhà lập pháp khi thiết kế Luật Hải quan 2014 và sau này là Nghị định 59/2018/NĐ-CP đã tạo ra một “cửa thoát hiểm” vô cùng nhân văn và thực tiễn: Cơ chế “Giải phóng hàng hóa” (áp dụng theo Điều 36 Luật Hải quan).8 Cần phải nhấn mạnh rằng, “giải phóng hàng hóa” là một bước đệm pháp lý trung gian, khác biệt hoàn toàn về bản chất pháp lý so với khái niệm “thông quan hàng hóa”. Khi một lô hàng được giải phóng, doanh nghiệp được phép điều động xe đầu kéo vào cảng, kéo container hàng hóa ra khỏi khu vực giám sát hải quan, đưa về kho nội bộ của doanh nghiệp để lưu giữ bảo quản an toàn, hoặc thậm chí được phép đưa ngay vào dây chuyền sản xuất để phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, lô hàng đó chưa chính thức được hoàn tất thủ tục về mặt pháp lý và tài chính đối với nhà nước.2

Cụ thể, khoản 15 Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung Điều 32 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, quy định rõ: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện phải thực hiện việc phân tích, phân loại hoặc giám định chuyên môn để xác định chính xác mã số hàng hóa, số lượng, trọng lượng, khối lượng, chủng loại, chất lượng thì được cơ quan hải quan chấp nhận áp dụng cơ chế giải phóng hàng.8 Để ngăn ngừa rủi ro thất thu thuế khi cho phép doanh nghiệp mang hàng về trước, điều kiện tiên quyết và bắt buộc để được giải phóng hàng là người khai hải quan phải nộp đủ 100% số tiền thuế được tính toán dựa trên cơ sở tự kê khai của chính mình, hoặc phải đệ trình được thư bảo lãnh của một tổ chức tín dụng hợp pháp cam kết nộp thay số tiền thuế tự khai báo đó.8

Sau khi kết thúc quá trình phân tích, khi có kết quả giám định chính thức được ban hành, cơ quan hải quan sẽ tiến hành đối chiếu. Nếu kết quả giám định dẫn đến sự thay đổi mã số HS hoặc trị giá, làm phát sinh chênh lệch về nghĩa vụ thuế, doanh nghiệp sẽ phải nộp bổ sung ngay phần thuế thiếu hụt (đồng thời có thể phải gánh chịu thêm các khoản tiền chậm nộp hoặc bị phạt vi phạm hành chính tùy thuộc vào tính chất và động cơ của hành vi khai sai ban đầu). Ngược lại, nếu kết quả giám định chứng minh doanh nghiệp đã khai đúng nhưng áp mức thuế cao hơn quy định, cơ quan hải quan sẽ phải thực hiện thủ tục hoàn trả lại số tiền thuế mà doanh nghiệp đã nộp thừa.2

Việc mở rộng và áp dụng triệt để cơ chế giải phóng hàng phản ánh một sự chuyển đổi tư duy quản lý nhà nước mang tầm vóc hiện đại: Chính phủ kiên quyết không để thủ tục hành chính nội bộ làm đình trệ sự lưu thông của dòng chảy thương mại. Đây là bước ngoặt chuyển đổi phương pháp kiểm soát rủi ro từ “tiền kiểm” (chặn đứng hàng hóa tại cửa khẩu cho đến khi mọi thứ rõ ràng) sang “hậu kiểm” (đánh giá, truy thu, xử phạt sau khi hàng hóa đã được đưa vào lưu thông).7 Tuy nhiên, quyền lợi này không phải là tuyệt đối. Nếu lô hàng thuộc diện quản lý rủi ro mức độ cao, có những dấu hiệu nghi ngờ nghiêm trọng về việc vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, có khả năng phát tán dịch bệnh, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội hoặc ô nhiễm môi trường, cơ quan hải quan sẽ kiên quyết từ chối áp dụng cơ chế giải phóng hàng mà yêu cầu phải lưu giữ hàng hóa tại cảng dưới sự giám sát chặt chẽ, liên tục của lực lượng hải quan cho đến khi có kết quả trưng cầu giám định cuối cùng khẳng định hàng hóa an toàn.23

Xử Lý Kết Quả Giám Định và Cơ Chế Giải Quyết Bất Đồng

Khi quá trình thử nghiệm tại phòng thí nghiệm kết thúc, tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định độc lập hoặc cơ quan kiểm định hải quan sẽ ban hành chứng thư giám định hoặc thông báo kết quả phân tích. Văn bản này sẽ được chuyển ngược trở lại cho Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp mở tờ khai ban đầu để tiến hành bước tiếp theo. Việc xử lý kết quả kiểm tra tại khâu này được điều chỉnh vô cùng chi tiết tại Điều 30 Nghị định 08/2015/NĐ-CP và khoản 19 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC.1 Diễn biến pháp lý tiếp theo của lô hàng rẽ sang hướng nào hoàn toàn phụ thuộc vào một yếu tố cốt lõi: Sự đồng thuận hay bất đồng từ phía người khai hải quan đối với kết luận của cơ quan quyền lực nhà nước.

Kịch bản Đồng Thuận và Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Trong trường hợp kết quả giám định chỉ ra có sự sai lệch rõ ràng so với hồ sơ khai báo ban đầu của doanh nghiệp (ví dụ: doanh nghiệp khai là nguyên liệu nhựa nguyên sinh mã HS thuế 0%, nhưng kết quả giám định là sản phẩm nhựa thành phẩm mã HS thuế 10%), nhưng người khai hải quan sau khi xem xét chứng thư nhận thấy kết quả này là khách quan, chính xác về mặt khoa học và nhất trí hoàn toàn với kết luận kiểm tra của cơ quan hải quan. Lúc này, doanh nghiệp có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện thủ tục khai bổ sung hồ sơ hải quan (thực hiện nghiệp vụ khai AMA trên hệ thống VNACCS) theo đúng các nội dung mà cơ quan hải quan yêu cầu.1

Hệ quả pháp lý đi kèm việc khai bổ sung này thường kéo theo sự thay đổi cấu trúc của toàn bộ trị giá tính thuế đối với lô hàng.15 Tùy thuộc vào mức độ sai lệch, động cơ chủ quan của chủ hàng và đặc biệt là mức độ ảnh hưởng đến tổng số tiền thuế phải nộp vào ngân sách, cơ quan hải quan sẽ xem xét quyết định việc thông quan hàng hóa đồng thời với việc thiết lập hồ sơ xử lý vi phạm. Theo quy định của pháp luật về quản lý thuế (được sửa đổi bởi Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13) và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, các hành vi khai sai tên hàng, mã số, số lượng dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn có thể bị phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm (thường là 20%) trên số thuế nộp thiếu. Thậm chí, cơ quan hải quan có thể ra quyết định phạt tiền từ 1 đến 3 lần số thuế gian lận nếu quá trình điều tra chứng minh được hành vi này cấu thành lỗi cố ý nhằm mục đích trốn thuế.2

Kịch bản Bất Đồng và Tính Ràng Buộc Của Chứng Cứ Giám Định Bên Thứ Ba

Thực tiễn quản lý hải quan nhiều năm qua minh chứng rằng, sự bất đồng sâu sắc giữa cộng đồng doanh nghiệp và lực lượng hải quan liên quan đến việc áp mã số HS và xác định trị giá tính thuế là nguyên nhân chủ yếu, chiếm tỷ lệ áp đảo dẫn đến các vụ tranh chấp hành chính kéo dài, tiêu hao nguồn lực của cả hai bên.

Nếu người khai hải quan kiên quyết không nhất trí với kết luận kiểm tra của cơ quan hải quan về tên hàng, mã số, xuất xứ, chủng loại, chất lượng hay trị giá, khoản 19 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC đã mở ra một lối thoát dân chủ: Trao cho doanh nghiệp quyền tự chủ lựa chọn một cơ quan, tổ chức giám định độc lập để tiến hành giám định lại toàn bộ lô hàng.2 Doanh nghiệp sẽ sử dụng kết quả giám định độc lập này (thường được thực hiện và nộp lại trong khoảng thời gian 30 ngày sau khi xin tách mẫu lưu) như một chứng cứ phản biện sắc bén nộp cho cơ quan hải quan.2

Khi tiếp nhận chứng thư giám định từ phía doanh nghiệp, cơ quan hải quan bắt buộc phải tổ chức xem xét, đánh giá tính hợp pháp, hợp lệ của chứng cứ này.2 Quá trình này dẫn đến hai khả năng tiếp theo:

  1. Hải quan chấp thuận: Nếu cơ quan hải quan xét thấy phương pháp thử nghiệm của tổ chức giám định do doanh nghiệp thuê là chuẩn xác, logic khoa học chặt chẽ và chấp nhận kết quả giám định này, cơ quan hải quan sẽ lấy chính kết luận của tổ chức giám định độc lập đó làm căn cứ duy nhất để ban hành quyết định thông quan hàng hóa.2
  2. Hải quan bác bỏ và sử dụng quyền lực tối hậu: Tuy nhiên, nếu cơ quan hải quan có đầy đủ cơ sở khoa học để bác bỏ kết quả giám định của phía doanh nghiệp (cho rằng phương pháp thử nghiệm không đạt chuẩn quốc gia, sử dụng máy móc chưa được kiểm định, hoặc có dấu hiệu nghi ngờ sự thông đồng thiếu khách quan), cơ quan hải quan sẽ viện đến quyền lực quản lý nhà nước tối hậu của mình. Đó là việc cơ quan hải quan sẽ tự mình lựa chọn và chỉ định một cơ quan, tổ chức giám định chuyên ngành cấp cao hơn (bên thứ ba) để tiến hành trưng cầu giám định lại lần cuối.2

Về mặt giá trị pháp lý học, khi cơ quan hải quan tự tay lựa chọn tổ chức giám định thứ ba này, kết quả của lần giám định này sẽ được pháp luật quy định là căn cứ có giá trị pháp lý ràng buộc cao nhất và mang tính chất quyết định. Cơ quan hải quan sẽ căn cứ trực tiếp và duy nhất vào kết quả giám định lần này để đưa ra quyết định hành chính cuối cùng về việc thông quan, áp mã, tính thuế đối với lô hàng.2 Chẳng hạn, theo tinh thần của Công văn 584/TCHQ-GSQL, Tổng cục Hải quan thường chỉ định các trung tâm mang tính chuẩn mực quốc gia trực thuộc nhà nước như Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng I, II, III (Quatest 1, 2, 3) thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ), hoặc tập đoàn VINACONTROL làm đơn vị “trọng tài” giải quyết bế tắc.20 Việc pháp luật quy định cơ quan hành chính có quyền quyết định chọn đơn vị giám định phân xử cuối cùng phản ánh nguyên lý bảo vệ trật tự quản lý nhà nước và nguyên tắc suy đoán tính hợp pháp của quyết định hành chính, song không thể phủ nhận nó cũng đặt một gánh nặng chứng minh vô cùng lớn, đôi khi là bất lợi, lên vai cộng đồng doanh nghiệp khi họ muốn theo đuổi đến cùng việc bảo vệ luận điểm chuyên môn của mình.

Chuỗi Trình Tự Giải Quyết Bất Đồng Về Kết Quả Giám Định Hải Quan
Bước 1: Cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra/phân tích nội bộ và ban hành Thông báo kết quả kiểm tra/kết quả phân loại mã số hàng hóa.
Bước 2: Doanh nghiệp không đồng ý, nộp văn bản khiếu nại hoặc xin tách mẫu lưu (trong 30 ngày) để tự đem đi giám định độc lập tại tổ chức do mình tự chọn.
Bước 3: Doanh nghiệp nộp chứng thư giám định độc lập cho Hải quan để đối nghị.
Bước 4: Hải quan đánh giá. Nếu đồng ý → Thông quan theo kết quả của doanh nghiệp. Nếu bác bỏ → Chuyển sang Bước 5.
Bước 5: Cơ quan Hải quan tự ra Quyết định chỉ định một Tổ chức giám định chuyên ngành cấp cao (Quatest, Vinacontrol…) để giám định lại.
Bước 6: Tổ chức giám định cấp cao ra kết quả. Cơ quan Hải quan sử dụng kết quả này làm căn cứ pháp lý mang tính ràng buộc để quyết định thông quan và áp thuế.
Bước 7: Nếu doanh nghiệp tiếp tục không đồng ý với quyết định ở Bước 6, doanh nghiệp chuyển sang con đường khiếu nại hành chính hoặc khởi kiện ra Tòa án Hành chính.

Trách Nhiệm Tài Chính, Cơ Chế Phân Bổ Chi Phí Giám Định và Hệ Lụy Kinh Tế

Hoạt động lấy mẫu, vận chuyển, bảo quản và chạy thử nghiệm phân tích tại các phòng thí nghiệm hiện đại là những dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành đắt đỏ, đòi hỏi cơ sở vật chất tiên tiến, hệ thống máy móc quang phổ, sắc ký hiện đại và chất xám của các kỹ sư chuyên gia. Do đó, chi phí thực hiện một ca giám định phức tạp là không hề nhỏ, có thể lên tới hàng chục triệu đồng cho mỗi mẫu vật. Việc xác định minh bạch ai – ngân sách của cơ quan hải quan hay túi tiền của doanh nghiệp – phải gánh chịu khoản chi phí khổng lồ này được quy định cụ thể trong pháp luật nhằm thiết lập sự công bằng, sòng phẳng trong thực thi thủ tục hành chính công.

Nguyên Tắc Phân Bổ Trách Nhiệm Chi Phí

Nguyên tắc bao trùm, xuyên suốt trong việc phân bổ chi phí giám định hải quan được tuân thủ chặt chẽ là: Chủ thể nào mang ý chí chủ động phát khởi yêu cầu trưng cầu giám định, chủ thể đó phải có nghĩa vụ tạm ứng và thanh toán chi phí.29

  1. Trường hợp cơ quan Hải quan chủ động trưng cầu giám định: Căn cứ theo nội dung quy định chi tiết tại Điều 24 Thông tư 38/2015/TT-BTC, trong quá trình làm thủ tục, khi cơ quan hải quan xét thấy cần thiết phải trưng cầu giám định bên ngoài để phục vụ công tác kiểm tra chuyên môn (áp mã HS, định giá trị, xác định niên hạn máy móc) mà việc này không hề xuất phát từ ý chí hay yêu cầu của phía doanh nghiệp, cơ quan hải quan sẽ phải chịu toàn bộ trách nhiệm chi trả chi phí giám định đó cho tổ chức cung ứng dịch vụ.30 Khoản chi phí này được lập dự toán và trích xuất từ nguồn ngân sách nhà nước phân bổ hàng năm cho hoạt động nghiệp vụ của ngành hải quan. Quy định tiến bộ này đóng vai trò như một “lệnh giới hạn quyền lực”, buộc công chức hải quan phải cân nhắc kỹ lưỡng bài toán chi phí - lợi ích trước khi ra quyết định. Nó trực tiếp ngăn chặn tệ nạn lạm quyền, yêu cầu đem hàng hóa đi giám định một cách tràn lan, bừa bãi đối với những lô hàng không thực sự có tính chất phức tạp, qua đó tránh gây phiền hà nhũng nhiễu và làm gia tăng gánh nặng chi phí xã hội bất hợp lý.20
  2. Trường hợp Doanh nghiệp chủ động yêu cầu giám định hoặc giám định lại: Ở chiều ngược lại, khi người khai hải quan kiên quyết không đồng ý với kết luận kiểm tra của cơ quan hải quan và sử dụng quyền tự quyết định lựa chọn một cơ quan, tổ chức giám định độc lập để lấy mẫu phân tích nhằm cung cấp chứng cứ đối kháng, người khai hải quan đương nhiên phải móc hầu bao tự chịu toàn bộ chi phí phát sinh từ hợp đồng cung ứng dịch vụ giám định dân sự đó.2
  3. Phân định rạch ròi qua kết quả Tố tụng cuối cùng: Trong một số tình huống tranh chấp hành chính leo thang đỉnh điểm dẫn đến việc hai bên kéo nhau ra Tòa án Hành chính (áp dụng theo quy định của Pháp lệnh chi phí giám định, định giá, chi phí cho người làm chứng, phiên dịch trong tố tụng năm 2012), nếu Tòa án xét thấy cần thiết và ra quyết định trưng cầu giám định tư pháp, đương sự có yêu cầu sẽ phải tạm ứng án phí giám định.29 Điểm đáng chú ý là sự công bằng của luật pháp: Nếu kết luận giám định tư pháp cuối cùng của Tòa án chứng minh rằng doanh nghiệp đã khai báo hoàn toàn trung thực và chính xác từ đầu, trong khi cơ quan hải quan đã ra quyết định ấn định thuế sai lầm, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra phán quyết buộc phía cơ quan nhà nước phải hoàn trả lại toàn bộ các chi phí tổn thất, bao gồm cả chi phí giám định, cho bên đương sự doanh nghiệp.29 Chính vì lý do này, giới luật sư tư vấn luôn đặc biệt khuyến nghị người yêu cầu giám định phải thiết lập hồ sơ vững chắc, chuẩn bị và lưu giữ cẩn thận toàn bộ biên bản tiếp nhận, phiếu yêu cầu, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán để làm cơ sở vững chắc yêu cầu tòa án xem xét, phân chia lại nghĩa vụ chi trả nhằm lấy lại sự công bằng tài chính.29

Tổn Thất Vô Hình, Gánh Nặng Kinh Tế và Hiệu Ứng Răn Đe

Trên thực tế thương trường, nếu chỉ nhìn vào khoản chi phí trả trực tiếp cho tổ chức giám định (Direct testing cost) thì đó mới chỉ là bề nổi của tảng băng chìm. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn phải đối mặt với một loạt các chi phí chìm (Sunk costs) khổng lồ phát sinh trong suốt thời gian mòn mỏi chờ đợi chứng thư.

Như đã phân tích ở phần trước, mặc dù cơ chế “Giải phóng hàng” đã được thiết lập để cứu nguy, giúp giảm tải áp lực, nhưng cơ chế này đòi hỏi doanh nghiệp phải có dòng tiền cực mạnh để nộp ngay 100% số thuế (hoặc phải trả phí bảo lãnh ngân hàng rất cao), và không phải mọi lô hàng (đặc biệt là hàng rủi ro cao, hàng y tế, thực phẩm) đều hội đủ điều kiện để được phép kéo hàng về kho bảo quản.8 Nếu hàng hóa bị ách tắc tại cảng biển quốc tế trong 10 đến 15 ngày chờ kết quả, doanh nghiệp không chỉ phải cắn răng chi trả các khoản phí lưu container, phí neo bãi cực kỳ đắt đỏ (tính theo đơn giá USD/container/ngày lũy tiến), mà còn phải chịu chi phí cắm điện duy trì nhiệt độ (đối với container lạnh chở thủy hải sản, nông sản).

Nghiêm trọng hơn mọi khoản phí cầu cảng, sự đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất do thiếu hụt nguyên liệu đầu vào có thể đẩy doanh nghiệp vào thế vi phạm tiến độ giao hàng xuất khẩu. Hậu quả là doanh nghiệp bị đối tác nước ngoài phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại, thậm chí bị hủy bỏ hợp đồng và mất luôn thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh.24 Gánh nặng kinh tế tác động kép này tạo ra một hệ lụy thực tiễn đầy xót xa: Trong rất nhiều trường hợp, mặc dù biết chắc chắn rằng cơ quan hải quan áp mã HS sai, nhưng vì áp lực duy trì dòng chảy chuỗi cung ứng quá lớn, doanh nghiệp buộc lòng phải chọn cách “ngậm đắng nuốt cay” chấp nhận ký vào biên bản đồng ý với mức áp mã HS có lợi cho cơ quan thu thuế để hàng hóa nhanh chóng được thông quan giải phóng. Họ thà chịu thiệt vài chục triệu đồng tiền thuế còn hơn bước vào con đường khiếu nại và trưng cầu giám định đối kháng đầy mệt mỏi, tốn kém hàng trăm triệu đồng và đánh mất uy tín thương hiệu đối với đối tác quốc tế.

Trách Nhiệm Pháp Lý Hình Sự và Dân Sự của Tổ Chức Giám Định

Tính khốc liệt của việc xác định sai lệch bản chất hàng hóa, sai mã số HS hoặc sai trị giá hải quan có thể đẩy doanh nghiệp vào vòng lao lý. Nếu cơ quan chức năng (Cơ quan điều tra chống buôn lậu của Hải quan hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra) thu thập đủ bằng chứng chứng minh được yếu tố cấu thành tội phạm, một sai lệch nhỏ trong khai báo có thể bị nâng lên thành vụ án khởi tố hình sự với tội danh “Buôn lậu” (Điều 188 Bộ luật Hình sự) hoặc tội “Trốn thuế” (Điều 200 Bộ luật Hình sự).3 Từ thực tế pháp lý nghiêm trọng này, một khía cạnh hệ trọng khác bắt buộc phải được làm rõ: Đó là chế tài và trách nhiệm pháp lý của chính đơn vị cung cấp dịch vụ, người đã đặt bút ký ban hành chứng thư giám định, nếu kết quả đó sau này bị cơ quan chức năng cấp cao hơn chứng minh là sai lệch.

Kết quả giám định bị coi là sai khi nó cung cấp số liệu không phản ánh đúng bản chất hiện trường. Sự sai lệch này có thể bắt nguồn từ nguyên nhân kỹ thuật khách quan (như máy móc hỏng hóc, phương pháp luận lỗi thời), sơ suất cá nhân của giám định viên, hoặc tệ hơn là do sự thiếu khách quan, không trung thực, cố tình nhận hối lộ để làm sai lệch kết quả. Theo nền tảng quy định của Điều 52, Điều 266 Luật Thương mại 2005 và các văn bản quy phạm liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, hậu quả pháp lý đối với tổ chức giám định được phân định rạch ròi dựa trên yếu tố lỗi cấu thành.18

  • Trường hợp phát sinh từ lỗi vô ý (sơ suất nghiệp vụ, yếu kém kỹ thuật): Nếu tổ chức giám định chứng minh được sai sót chỉ là do yếu tố kỹ thuật, không có động cơ vụ lợi, tổ chức đó có nghĩa vụ phải trả tiền phạt vi phạm hợp đồng cho khách hàng. Tuy nhiên, pháp luật thương mại hiện hành có quy định một “trần bảo vệ” để tránh doanh nghiệp giám định phá sản: mức phạt vi phạm thông thường bị giới hạn theo thỏa thuận nhưng không được vượt quá 10 lần mức thù lao dịch vụ giám định mà tổ chức đó đã thu của khách hàng đối với chính lô hàng đó.18
  • Trường hợp phát sinh từ lỗi cố ý (thông đồng gian lận, cố ý làm sai lệch kết quả): Đây là ranh giới vô cùng nguy hiểm. Nếu có bằng chứng cho thấy tổ chức giám định đã cấu kết, thông đồng với chủ hàng để cấp khống chứng thư, hoặc cố ý làm sai lệch kết quả nhằm giúp chủ hàng trốn thuế hải quan, tổ chức giám định sẽ bị tước bỏ “trần bảo vệ”. Họ không những phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ 100% thiệt hại thực tế phát sinh cho bên bị thiệt hại (bao gồm cả số thuế bị nhà nước truy thu và các khoản phạt hợp đồng mà chủ hàng phải chịu), mà các cá nhân trực tiếp ký khống (giám định viên, giám đốc trung tâm) còn phải đối mặt trực diện với các chế tài hình sự nghiêm khắc. Các tội danh có thể bị truy tố bao gồm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, tội nhận hối lộ, hoặc tội cung cấp tài liệu giả mạo trong quy trình tố tụng, hành chính.3

Hệ thống quy định trách nhiệm bồi thường và chế tài hình sự cứng rắn này buộc các tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định trên thị trường phải thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ (như tiêu chuẩn ISO/IEC 17025) vô cùng khắt khe, minh bạch. Bởi lẽ, một tờ chứng thư sai lệch nộp cho cơ quan hải quan không chỉ đơn thuần là một sản phẩm dịch vụ tồi, mà nó có thể là ngòi nổ dẫn đến hệ lụy dây chuyền phá vỡ toàn bộ cấu trúc kinh doanh của khách hàng và tống người ký chứng thư vào tù.

Trình Tự Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính tại Cơ Quan Hải Quan

Khi toàn bộ chuỗi nghiệp vụ kiểm tra, giám định hành chính kết thúc bằng một bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc quyết định ấn định thuế gây bất lợi nghiêm trọng cho doanh nghiệp, pháp luật quốc gia không bỏ rơi người dân mà mở ra một con đường giải quyết tranh chấp quy chuẩn thông qua hệ thống khiếu nại hành chính nội bộ và tiếp đó là tố tụng tư pháp tại tòa án.

Nếu người khai hải quan tiếp tục giữ vững lập trường, kiên quyết không đồng ý với kết luận kiểm tra cuối cùng của cơ quan hải quan (kể cả sau khi cơ quan hải quan đã áp đặt sử dụng kết quả trưng cầu giám định do bên thứ ba mà hải quan tự lựa chọn), người khai hải quan được quyền viện dẫn Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng Hành chính. Họ có quyền khởi kiện trực tiếp vụ án ra Tòa án Hành chính nhân dân, hoặc lựa chọn phương án nhẹ nhàng hơn là làm đơn khiếu nại lần đầu bằng văn bản gửi trực tiếp đến vị Thủ trưởng đơn vị hải quan đã đặt bút ký ra quyết định (thông thường là Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc Cục trưởng Cục Hải quan cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương).2

Trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại và giải quyết khiếu nại trong nội bộ ngành hải quan được quy chuẩn hóa nghiêm ngặt tại bản Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 1788/QĐ-TCHQ của Tổng cục Hải quan.33 Quá trình này được thiết kế để đảm bảo tính nhanh chóng, không dồn ứ hồ sơ. Ngay trong thời hạn 01 (một) ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại của doanh nghiệp, Tổ chức Thanh tra - Kiểm tra thuộc đơn vị hải quan phải hoàn tất việc phân loại và chuyển đơn đến tay người có thẩm quyền giải quyết đúng pháp luật. Nếu khiếu nại thuộc thẩm quyền thụ lý, cơ quan hải quan sẽ phải ra thông báo thụ lý chính thức trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc (quy định này tuân thủ tuyệt đối Luật Khiếu nại và khoản 1 Điều 16 Nghị định 124/2020/NĐ-CP của Chính phủ).33

Khi thụ lý, một Tổ xác minh khiếu nại độc lập sẽ được thành lập. Tổ xác minh này có trách nhiệm thu thập thông tin đa chiều, làm việc trực tiếp với doanh nghiệp và đối chiếu hồ sơ.33 Điểm nhấn quan trọng về mặt nghiệp vụ chuyên sâu tại bước này là: Trong quá trình thụ lý điều tra nội dung đơn khiếu nại, nếu Tổ xác minh nhận thấy các chứng cứ hiện tại (bao gồm cả các chứng thư giám định trước đó) còn nhiều điểm mâu thuẫn, chưa đủ độ tin cậy để làm căn cứ bác bỏ hay chấp nhận yêu cầu của doanh nghiệp, Tổ xác minh được trao quyền chủ động quyết định tiếp tục thực hiện trưng cầu giám định lại thêm một lần nữa đối với mẫu lưu.33

Sự cẩn trọng trong giải quyết khiếu nại là tối cần thiết. Tại Tổng cục Hải quan, có những chỉ đạo nghiệp vụ khắt khe đối với những trường hợp lô hàng đã trải qua 2 đến 3 trung tâm giám định khác nhau theo chỉ định của hải quan trong quá trình giải quyết khiếu nại, nhưng kết quả trả về vẫn đánh nhau bôm bốp, mâu thuẫn hoàn toàn về bản chất (điều thường xảy ra đối với các hợp chất hóa học mới hoặc rác thải tiền chế). Đối với các ca khó này, hải quan địa phương không được phép tự ý định đoạt mà bắt buộc phải thiết lập hồ sơ báo cáo vượt cấp lên Cục trưởng, thậm chí xin ý kiến Hội đồng chuyên môn của Tổng cục Hải quan để có hướng phân xử cuối cùng, tuyệt đối không cho phép sử dụng quyền lực hành chính để áp đặt kết quả một cách cứng nhắc, khiên cưỡng, gây oan sai cho doanh nghiệp.20 Nếu quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Cục Hải quan tỉnh vẫn chưa làm thỏa mãn doanh nghiệp, họ có quyền tiếp tục nộp đơn khiếu nại lần hai lên cấp cao hơn (Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính), hoặc tiến hành nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án nhân dân để phân xử bằng một bản án có hiệu lực thi hành.32

Tầm Nhìn Cải Cách Hành Chính và Định Hướng Hiện Đại Hóa Công Tác Giám Định

Nhìn nhận một cách thẳng thắn những nút thắt cổ chai, sự phiền hà, tốn kém trong thủ tục kiểm tra thực tế, lấy mẫu và phân tích phân loại những năm qua, Chính phủ Việt Nam và Bộ Tài chính đã không ngừng nỗ lực khởi xướng và thực thi các chiến lược cải cách hành chính mang tính sống còn. Mục tiêu tối thượng của các cuộc cải cách này là tìm ra điểm cân bằng lý tưởng: Vừa đảm bảo khả năng kiểm soát chặt chẽ rủi ro an ninh kinh tế, chủ quyền quốc gia của cơ quan quản lý nhà nước, vừa phải đáp ứng trọn vẹn nhu cầu luân chuyển vốn, hàng hóa với tốc độ chóng mặt của nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu.

Sự thay đổi tư duy mang tính kiến tạo được thể hiện rõ nét qua việc chuyển đổi từ cơ chế kiểm tra tiền thông quan (kiểm tra gắt gao mọi thứ trước khi cho hàng qua cổng) sang phương thức quản lý hiện đại dựa trên sự tuân thủ pháp luật tự nguyện của doanh nghiệp và kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm). Tư tưởng cốt lõi này đã được hiện thực hóa qua việc Bộ Tài chính liên tục nâng cấp các quy phạm từ Thông tư 38/2015/TT-BTC lên Thông tư 39/2018/TT-BTC.19 Thông qua việc vận hành Hệ thống đánh giá tuân thủ doanh nghiệp (Compliance Management System), các doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật xuất sắc, không có nợ xấu, không vi phạm (đặc biệt là nhóm Doanh nghiệp ưu tiên - Authorized Economic Operator - AEO) sẽ được hưởng các đặc quyền to lớn: họ được hệ thống tự động phân luồng xanh, miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ chứng từ, miễn hoàn toàn kiểm tra thực tế hàng hóa, và hiển nhiên được miễn luôn các thủ tục rườm rà về lấy mẫu trưng cầu giám định tại cửa khẩu, trừ phi có tin báo tình báo hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật đặc biệt rõ ràng.19 Hệ thống AEO này giúp cơ quan hải quan tiết kiệm nguồn lực khổng lồ để tập trung mũi nhọn điều tra vào nhóm doanh nghiệp rủi ro cao, có tiền sử buôn lậu.

Điển hình mạnh mẽ nhất cho cam kết chính trị nhằm giảm thiểu gánh nặng giám định lên vai cộng đồng doanh nghiệp là việc Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 123/QĐ-TCHQ vào tháng 1 năm 2023. Quyết định này không mang tính hô hào khẩu hiệu mà giao hẳn hệ thống chỉ tiêu định lượng cải cách hành chính vô cùng quyết liệt cho từng Chi cục, Cục Hải quan trên toàn quốc.36 Cụ thể, Quyết định này đặt ra các mục tiêu ép các đơn vị trực thuộc phải đạt được trong năm: Phải cải thiện chất lượng quản lý rủi ro để giảm tối thiểu 5% tỷ lệ tờ khai bị phân luồng đỏ (bắt buộc kiểm tra thực tế hàng hóa), giảm 10% tỷ lệ tờ khai bị phân luồng vàng (kiểm tra hồ sơ chứng từ); đồng thời phải dùng mọi biện pháp công nghệ, sắp xếp nhân sự để cắt giảm thời gian thông quan, thời gian giải phóng hàng xuống thêm 10% so với năm trước.36

Đặc biệt và mang tính sát sườn nhất, Tổng cục Hải quan đã đặt một chỉ tiêu trực tiếp nhắm đến mảng giám định: Yêu cầu toàn ngành phải giảm tối thiểu 20% số lô hàng phải lấy mẫu đem đi phân tích, giám định so với giai đoạn trước đó.36 Để có thể đạt được con số cắt giảm ấn tượng này, cơ quan hải quan các cấp bị buộc phải thực hiện cuộc rà soát toàn diện, đề xuất cắt bỏ các danh mục yêu cầu kiểm tra chuyên ngành chồng chéo giữa các bộ ngành (ví dụ mặt hàng vừa chịu kiểm tra của Bộ Y tế, vừa chịu kiểm tra của Bộ Nông nghiệp). Hơn thế nữa, chỉ thị này yêu cầu loại bỏ triệt để thói quen hành chính yếu kém: việc công chức hải quan vì sợ trách nhiệm, thiếu quyết đoán chuyên môn nên “đá bóng” trách nhiệm bằng cách yêu cầu giám định một cách “tràn lan” đối với cả những mặt hàng thông thường.20 Cùng với đó, Quyết định số 123/QĐ-TCHQ nghiêm cấm mọi hành vi công chức hải quan tự ý đẻ thêm các thủ tục ngoài luật, đồng thời ra lệnh chuyển đổi khẩn cấp cơ bản toàn bộ hồ sơ hải quan sang định dạng chứng từ dữ liệu điện tử (phi giấy tờ - paperless hải quan).36

Những định hướng cải cách sắc bén này phản ánh sinh động sự chuyển dịch từ một nền hành chính mang nặng tính cai trị, mệnh lệnh hành chính sang một nền hành chính phục vụ, dịch vụ kiến tạo. Bằng việc đặt niềm tin và khai thác tối đa sức mạnh của hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích rủi ro, thay vì phụ thuộc quá mức vào việc mổ xẻ thủ công từng container hàng hóa mang đi phòng thí nghiệm, cơ quan quản lý hải quan đang góp phần then chốt trong việc định hình một môi trường thương mại xuyên biên giới cạnh tranh, minh bạch, công bằng và hiệu quả hơn.

Kết luận

Thủ tục lấy mẫu, phân tích phân loại và cơ chế trưng cầu giám định độc lập trong hoạt động quản lý hải quan tại Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chỉ đơn thuần là các thao tác kỹ thuật phòng thí nghiệm đo lường hóa chất hay đếm chi tiết máy. Nó cấu thành nên một thiết chế pháp lý vĩ mô, cực kỳ phức tạp và tinh vi, là mặt trận sinh tử nơi diễn ra sự giao thoa khốc liệt giữa quyền lực quản lý hành chính nhà nước, mục tiêu bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh biên giới và quyền tự do kinh doanh thương mại, tự do lưu thông hàng hóa của cộng đồng doanh nghiệp. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ của Việt Nam, kéo dài từ Luật Hải quan 2014, Nghị định 08/2015/NĐ-CP, Nghị định 59/2018/NĐ-CP đến các Thông tư 38/2015/TT-BTC, Thông tư 39/2018/TT-BTC, đã nỗ lực vạch ra một quy trình kiểm soát mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc định danh, định lượng, định giá hàng hóa xuất nhập khẩu tuân thủ nghiêm ngặt các rào cản quốc gia và chuẩn mực minh bạch của quốc tế.

Tuy nhiên, bức tranh thực tiễn áp dụng cơ chế trưng cầu giám định vẫn còn tồn tại những mảng tối. Nếu bị vận dụng cứng nhắc, lạm quyền hoặc thiếu hệ thống giám sát, cơ chế này luôn tiềm ẩn nguy cơ biến tướng thành các rào cản thương mại phi thuế quan (Non-Tariff Barriers) tàn phá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Những mâu thuẫn sâu sắc, dai dẳng về kết quả giám định áp mã HS, áp lực tài chính nghẹt thở đổ lên đầu doanh nghiệp từ chi phí neo đậu tàu, lưu bãi, đứt gãy chuỗi sản xuất, cùng sự gian nan, phức tạp kéo dài trong quy trình khiếu nại hành chính và khởi kiện tư pháp vẫn là những bài toán hóc búa mang tính hệ thống.

Chính vì vậy, định hướng chiến lược hiện đại hóa toàn diện ngành hải quan, với những cam kết chính trị mạnh mẽ như việc cắt giảm 20% tỷ lệ bắt buộc lấy mẫu giám định, chuyển dịch triệt để từ tiền kiểm sang hậu kiểm và ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản lý rủi ro điện tử, là một lộ trình mang tính tất yếu lịch sử, không thể đảo ngược. Để công cuộc cải cách này thực sự thẩm thấu và mang lại giá trị thực tiễn cho nền kinh tế, việc tiếp tục hoàn thiện, xây dựng và duy trì tính minh bạch tuyệt đối trong các quy định phân bổ chi phí giám định, rút ngắn tối đa thời gian xử lý khiếu kiện, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt đạo đức nghề nghiệp, nâng cao năng lực kỹ thuật cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định độc lập sẽ là những khâu đột phá chiến lược. Một cơ chế giám định hải quan công bằng, dứt khoát, thượng tôn pháp luật và coi trọng tốc độ dòng chảy thương mại không chỉ là lá chắn thép bảo vệ nguồn thu ngân sách mà còn tạo ra sức bật mạnh mẽ, nâng tầm năng lực cạnh tranh cốt lõi của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập.

Nguồn trích dẫn

  1. Nghị định 08/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://thuviennhadat.vn/van-ban-phap-luat-viet-nam/nghi-dinh-08-2015-nd-cp-thi-hanh-luat-hai-quan-ve-thu-tuc-kiem-tra-giam-sat-kiem-soat-hai-quan-263815.html
  2. Xử lý kết quả kiểm tra hải quan như thế nào? - Luật Hoàng Anh, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://luathoanganh.vn/hai-quan/xu-ly-ket-qua-kiem-tra-hai-quan-nhu-the-nao-lha10940.html
  3. KDXNK - Tóm tắt về Kiểm Tra và Giám Sát Hải Quan - Studocu Vietnam, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-sai-gon/quan-tri-xuat-nhap-khau/kdxnk-tom-tat-ve-kiem-tra-va-giam-sat-hai-quan/157783831
  4. LUẬT HẢI QUAN Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực kể t 1 - Chính phủ, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/3/54-vbhn-vpqh.pdf
  5. Tờ khai hải quan là gì? Thời hạn nộp tờ khai hải quan trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu được quy định như thế nào?, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://thuviennhadat.vn/phap-luat/to-khai-hai-quan-la-gi-thoi-han-nop-to-khai-hai-quan-trong-truong-hop-hang-hoa-nhap-khau-duoc-quy-d-188130-622727.html
  6. Điều 30 Luật Hải quan 2014 - Hệ thống pháp luật, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://hethongphapluat.com/luat-hai-quan-2014/dieu-30
  7. Đề Tài Nghiên Cứu: Kiểm Tra Hồ Sơ và Thuế trong Thủ Tục Hải Quan (TMQT1124), truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.studocu.vn/vn/document/dai-hoc-kinh-te-quoc-dan/nghiep-vu-hai-quan/de-tai-nghien-cuu-kiem-tra-ho-so-va-thue-trong-thu-tuc-hai-quan-tmqt1124/148637347
  8. Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 08/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan | VCCI, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.vcci.com.vn/legal-document/nghi-dinh-592018nd-cp-sua-doi-nghi-dinh-082015nd-cp-huong-dan-luat-hai-quan-ve-thu-tuc-hai-quan-kiem-tra-giam-sat-kiem-soat-hai-quan
  9. SỬA ĐỔI THÔNG TƯ 38/2015/TT-BTC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN; KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN; THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU DO BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH BAN HÀNH - UBND tỉnh Bình Phước, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://binhphuoc.gov.vn/vi/laws/detail/SUA-DOI-THONG-TU-38-2015-TT-BTC-QUY-DINH-VE-THU-TUC-HAI-QUAN-KIEM-TRA-GIAM-SAT-HAI-QUAN-THUE-XUAT-KHAU-THUE-NHAP-KHAU-VA-QUAN-LY-THUE-DOI-VOI-HANG-HOA-XUAT-KHAU-NHAP-KHAU-DO-BO-TRUONG-BO-TAI-CHINH-BAN-HANH-661/
  10. Thông tư 38/2015/TT-BTC về thủ tục hải quan, quản lý thuế đối với hàng xuất, nhập khẩu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://thuvienxuatnhapkhau.com/thong-tu-38-2015-tt-btc-ve-thu-tuc-hai-quan-quan-ly-thue-doi-voi-hang-xuat-nhap-khau.html
  11. Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://vcci.com.vn/legal-document/thong-tu-392018tt-btc-sua-doi-thong-tu-382015tt-btc-quy-dinh-ve-thu-tuc-hai-quan-kiem-tra-giam-sat-hai-quan-thue-xuat-khau-thue-nhap-khau-va-quan-ly-thue-doi-voi-hang-hoa-xuat-khau-nhap-khau-do-bo-truong-bo-tai-chinh-ban-hanh
  12. Bài Tiểu Luận Giữa Kỳ: Quy Trình Xác Định Mã HS và Ứng Dụng (ML 24) - Studocu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-ngoai-thuong/quan-ly-nha-nuoc-ve-hai-quan/nhom-1-chu-de-5-version-2/50572156
  13. Nghiệp Vụ Hải Quan: Pháp Luật & Thực Thi Nghị Định 08/2015/NĐ-CP - Studocu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-giao-thong-van-tai/hai-quan/nghiep-vu-phap-luat-hai-quan/85526437
  14. Quyết định 2166/QĐ-TCHQ năm 2021 Quy trình phân tích để phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://thuvienxuatnhapkhau.com/quyet-dinh-2166-qd-tchq-nam-2021-quy-trinh-phan-tich-de-phan-loai-hang-hoa-xuat-khau-nhap-khau.html
  15. Nghị định 08/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hải quan - Luật Việt Nam, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://luatvietnam.vn/xuat-nhap-khau/nghi-dinh-08-2015-nd-cp-chinh-phu-92345-d1.html
  16. VCCI_Góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 08 về thủ tục hải quan - VIB Online, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://vibonline.com.vn/bao_cao/vcci_gop-y-du-thao-nghi-dinh-sua-doi-nghi-dinh-08-ve-thu-tuc-hai-quan
  17. Long An - VBPL MOJ, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://vbpl.moj.gov.vn/longan/Pages/vbpq-print.aspx?ItemID=32604
  18. PL TMHHDV | PDF - Scribd, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.scribd.com/document/714376722/PL-TMHHDV
  19. Thông tư 38/2015/TT-BTC về thủ tục hải quan, quản lý thuế đối với hàng xuất, nhập khẩu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://luatvietnam.vn/thue/thong-tu-38-2015-tt-btc-bo-tai-chinh-93460-d1.html
  20. Công văn về việc Chứng thư giám định hàng hoá xuất nhập khẩu - LuatVietnam, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://luatvietnam.vn/xuat-nhap-khau/cong-van-584-tchq-gsql-tong-cuc-hai-quan-10797-d6.html
  21. Thông tư 128/2013/TT-BTC về thủ tục hải quan, thuế với hàng hoá xuất, nhập khẩu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://luatvietnam.vn/thue/thong-tu-128-2013-tt-btc-bo-tai-chinh-81589-d1.html
  22. BẢNG TỔNG HỢP GIẢI TRÌNH Ý KIẾN CỦA CÁC ĐƠN VỊ - VIB Online, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://vibonline.com.vn/wp-content/uploads/2020/11/Bang-so-sanh-cac-dieu-khoan-sua-doi-TT14-ngay-6.11.doc
  23. chính sách và thủ tục - Chi cục Hải quan khu vực III, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://kv03.customs.gov.vn/index.jsp?pageId=1955&cid=3151&ma=398
  24. Tiểu luận GDTM: Phân Tích Điều Khoản Khiếu Nại và Trọng Tài trong Hợp Đồng Quốc, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-tai-chinh-marketing/tin-hoc-ung-dung/tieu-luan-gdtm-phan-tich-dieu-khoan-khieu-nai-va-trong-tai-trong-hop-dong-quoc/136212157
  25. NGHỊ ĐỊNH 59/2018/NĐ-CP SỬA ĐỔI NGHỊ ĐỊNH 08/2015/NĐ-CP HƯỚNG DẪN LUẬT HẢI QUAN VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT, KIỂM SOÁT HẢI QUAN - Slideshare, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://pt.slideshare.net/slideshow/ngh-nh-592018ncp-sa-i-ngh-nh-082015ncp-hng-dn-lut-hi-quan-v-th-tc-hi-quan-kim-tra-gim-st-kim-sot-hi-quan/97019203
  26. 85371099? Trong trường hợp phải dùng mã số Hải Quan đưa ra, doanh nghiệp có bị phạt do số tiền thuế chênh lệch theo quy định tại khoản 5 điều 1 - Hỏi đáp CSTC - Bộ Tài chính, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://isa.mof.gov.vn/hoidapcstc/home/cthoidap/60470
  27. Thông tư 38/2015/TT-BTC Quy Định Về Thủ Tục Hải Quan - Xuất nhập khẩu Lê Ánh, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://xuatnhapkhauleanh.edu.vn/thong-tu-38-2015-tt-btc-quy-dinh-ve-thu-tuc-hai-quan.html
  28. Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan - VCCI, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://vcci.com.vn/legal-document/thong-tu-382015tt-btc-cua-bo-tai-chinh-quy-dinh-ve-thu-tuc-hai-quan-kiem-tra-giam-sat-hai-quan-thue-xuat-khau-thue-nhap-khau-va-quan-ly-thue-doi-voi-hang-hoa-xuat-khau-nhap-khau
  29. Quy trình và mức chi phí giám định trong tố tụng dân sự - META Law Firm, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://metaasia.vn/chi-phi-giam-dinh-trong-to-tung-dan-su/
  30. Thong tu so 38 2015-tt-btc ngay 25-3-2015 | DOC - Slideshare, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.slideshare.net/slideshow/thong-tu-so-38-2015ttbtc-ngay-2532015/46485381
  31. Luật sư tư vấn khiếu nại kết luận giám định trong tố tụng hình sự, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://dichvutuvanphaply.com/luat-su-tu-van-khieu-nai-ket-luan-giam-dinh-trong-to-tung-hinh-su/
  32. Doanh nghiệp không đồng ý với kết quả xác định trị giá của hải quan có quyền khiếu nại, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://baovephapluat.vn/kinh-te/kinh-doanh-phap-luat/doanh-nghiep-khong-dong-y-voi-ket-qua-xac-dinh-tri-gia-cua-hai-quan-co-quyen-khieu-nai-110508.html
  33. Quyết định 1788/QĐ-TCHQ quy chế giải quyết khiếu nại tại cơ quan Hải quan, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://luatvietnam.vn/hanh-chinh/quyet-dinh-1788-qd-tchq-quy-che-giai-quyet-khieu-nai-tai-co-quan-hai-quan-204257-d1.html
  34. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại - Cổng TTĐT Sở Tư Pháp Hà Tĩnh, truy cập vào tháng 6 15, 2026, http://tuphap.hatinh.gov.vn/chi-tiet-tin-tuc/trinh-tu-thu-tuc-giai-quyet-khieu-nai
  35. BTVN Kiểm Tra Giám Sát Hải Quan - Chương 3: Phân Tích Quy Định - Studocu, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://www.studocu.vn/vn/document/hoc-vien-ngan-hang/chinh-sach-va-nghiep-vu-hai-quan/btvn-kiem-tra-giam-sat-hai-quan/130029852
  36. Ngành hải quan sẽ giảm 10% thời gian thông quan trong năm 2023 - Tỉnh Thái Nguyên, truy cập vào tháng 6 15, 2026, https://thainguyen.gov.vn/chi-cuc-hai-quan-thai-nguyen/nganh-hai-quan-se-giam-10-thoi-gian-thong-quan-trong-nam-2023-138041