Quốc hội chính thức thông qua Luật Hải quan sửa đổi. Những điểm mới và tác động tới doanh nghiệp

Chào anh chị em cộng đồng,

Ngày 23/8/2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, có hiệu lực thi hành từ 01/3/2027. Luật gồm 4 Điều, tập trung vào các nhóm chính sách chính: đẩy mạnh cải cách thủ tục, chuyển đổi số trong hải quan; hoàn thiện quy định quản lý TMĐT; phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; bổ sung quy định đáp ứng yêu cầu mới (ví dụ: quản lý hàng hóa qua TMĐT, kho ngoại quan, miễn thuế…). So với hiện hành, Luật thêm nhiều quy định mới về hải quan số (không nộp lại hồ sơ điện tử đã chia sẻ qua Cơ chế Một cửa Quốc gia), mở rộng quản lý hàng hóa trên sàn TMĐT (yêu cầu định danh điện tử, kết nối dữ liệu các sàn nước ngoài), bỏ một số điều kiện, thủ tục cồng kềnh (loại bỏ kho bảo thuế, bãi bỏ địa điểm cửa hàng miễn thuế nội địa, xóa bỏ điều kiện kinh doanh đại lý hải quan). Bài viết này phân tích chi tiết các điểm sửa đổi (so sánh cũ – mới), đánh giá tác động lên thương mại, thu ngân sách, doanh nghiệp, thực thi và đề xuất khuyến nghị.

Điểm mới của Luật Hải quan (so với hiện hành)

  • Hải quan số, Cơ chế Một cửa quốc gia (NSW): Luật bổ sung nguyên tắc không yêu cầu nộp lại bản giấy các dữ liệu điện tử đã được chia sẻ qua Cơ chế Một cửa quốc gia. Luật chuẩn hóa khái niệm NSW, làm rõ phối hợp, chia sẻ dữ liệu điện tử. Tổng cục Hải quan và các bộ liên quan ưu tiên đầu tư hạ tầng CNTT, ứng dụng AI và dữ liệu lớn để đẩy nhanh hải quan số. Đề xuất không thu hồ sơ đã xử lý trên NSW giúp giảm phiền hà cho doanh nghiệp.
  • Quản lý thương mại điện tử xuyên biên giới: Lần đầu tiên bổ sung cơ chế quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua sàn TMĐT, quy định trách nhiệm của các chủ thể (doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát nhanh, sàn TMĐT, doanh nghiệp quá cảnh, trung chuyển hàng hóa). Cá nhân, tổ chức mua/bán hàng qua sàn TMĐT phải định danh, xác thực điện tử theo quy định. Luật chỉ nêu nguyên tắc giám sát cơ bản và giao Chính phủ quy định chi tiết ngưỡng giá trị, quy trình kiểm tra (ví dụ: định danh người bán nước ngoài).
  • Giảm bớt điều kiện và thủ tục: Loại bỏ một số điều kiện kinh doanh không cần thiết. Điển hình, ĐH sửa đổi bỏ quy định về “điều kiện kinh doanh” đối với đại lý làm thủ tục hải quan (hiện đã chuyển thành cơ chế hậu kiểm, dựa trên tiêu chuẩn nghề nghiệp). Xóa quy định về kho bảo thuế (hiện cả nước chỉ có 1 kho; bãi bỏ để tránh chồng chéo) và bãi bỏ cửa hàng miễn thuế nội địa (giữ quy định miễn thuế chỉ tại khu vực cách ly, khu hạn chế theo pháp luật). Thủ tục hải quan được thông suốt hơn: Luật bổ sung quy định xử lý khi hệ thống gặp sự cố và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, khu vực xa (không tắc nghẽn toàn bộ quy trình).
  • Kiểm tra, giám sát và an ninh: Luật bổ sung quy định giám sát hàng hóa qua TMĐT (giao Chính phủ quy định chi tiết về phương thức, nhãn mác định danh điện tử và kết nối dữ liệu với nền tảng nước ngoài). Đã loại bỏ “kiểm định hải quan” (trước là một khái niệm đề xuất về kiểm tra chuyên ngành); thay vào đó, giữ nguyên giám định/chuyên ngành hiện hành do còn nhiều tranh luận. Về sở hữu trí tuệ, dự thảo bổ sung từ “quá cảnh” vào khoản 3 Điều 73 (cho phép áp dụng biện pháp tạm dừng cho cả hàng hóa quá cảnh nghi ngờ vi phạm). Các quy định về kiểm tra sau thông quan được chỉnh lý để khả thi hơn (giao Chính phủ phân định vi phạm cố ý/vô ý).
  • Tổ chức thực hiện: Luật rà soát bổ sung đồng bộ các điều về kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ, kho trung chuyển, cửa hàng miễn thuế, bảo đảm thống nhất với pháp luật thuế, quản lý ngoại thương và FTA/Kyoto. Ví dụ, quyền và nghĩa vụ của kho bảo thuế (Quy định tại Khoản 9 Điều 4, Khoản 2 Điều 62, Điều 63 hiện hành) sẽ bị bãi bỏ, do cả nước chỉ còn 1 kho hiện hữu. Các cơ quan hải quan và tỉnh được giao phối hợp quản lý kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế theo quy chuẩn đồng bộ. Phân cấp thẩm quyền được giữ ổn định (ví dụ Điều 88 về quyền hạn lãnh đạo giám sát hải quan không thay đổi).

So sánh quy định mới và hiện hành

Nội dung Hiện hành (trước sửa đổi) Quy định mới (sau sửa đổi) Tác động pháp lý chính
Hồ sơ điện tử/ NSW Chưa có nguyên tắc rõ ràng về tái sử dụng dữ liệu trên NSW; có thể yêu cầu hồ sơ giấy đi kèm dữ liệu điện tử. Bổ sung nguyên tắc không yêu cầu nộp lại bản giấy cho dữ liệu điện tử đã chia sẻ qua Cơ chế Một cửa quốc gia. Giảm thủ tục, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp; đẩy nhanh hải quan số.
Hàng TMĐT Luật hiện hành chưa quy định riêng cho hàng qua thương mại điện tử xuyên biên giới. Thêm điều khoản mới về quản lý hàng qua sàn TMĐT: quy định trách nhiệm của sàn (bao gồm cả sàn nước ngoài), yêu cầu người kinh doanh TMĐT xác thực định danh điện tử. Mở rộng phạm vi kiểm soát hàng hóa, thúc đẩy tuân thủ pháp luật và chống gian lận TMĐT.
Điều kiện đại lý hải quan Phải có điều kiện đầu tư (như vốn tối thiểu, kỹ năng); quản lý theo tiền kiểm. Bãi bỏ điều kiện kinh doanh (chuyển thành tiêu chuẩn nghề nghiệp và hậu kiểm). Giảm rào cản gia nhập thị trường cho đại lý; tăng tính chuyên nghiệp thông qua hậu kiểm.
Kho bảo thuế Có quy định về thành lập và hoạt động kho bảo thuế (Điều 62, 63 Luật hiện hành). Bãi bỏ chế định kho bảo thuế (không còn định nghĩa và quy định liên quan). Xóa bỏ quy định lạc hậu (trong thực tế chỉ còn 1 kho bảo thuế); gỡ vướng cục bộ.
Cửa hàng miễn thuế nội địa Luật có quy định cửa hàng miễn thuế tại khu vực nội địa (chưa hạn chế). Chỉ quy định cửa hàng miễn thuế tại khu cách ly, khu hạn chế và các khu khác theo luật chuyên ngành. Đồng bộ với thực tiễn (chủ yếu là cửa hàng ở sân bay); giảm chồng chéo quy định.
Kiểm định hải quan Dự thảo trước và một số ý kiến từng đề xuất quy định kiểm định hải quan (kiểm tra hàng hóa theo tiêu chuẩn công nghiệp). Đã loại bỏ hoàn toàn khái niệm và quy định kiểm định hải quan. Giảm phức tạp pháp lý; tách bạch việc kiểm tra chuyên ngành độc lập và quản lý hải quan.
Phân cấp, quyền hạn Điều 88 quy định cơ quan hải quan địa phương là cơ quan chủ trì trong thủ tục (theo Luật hiện hành). Giữ nguyên Quy định về thẩm quyền chủ trì tại Điều 88. Duy trì hiệu quả quản lý, tiếp tục giao việc rõ ràng cho hải quan địa phương.
Hồ sơ, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ Chưa có quy định cụ thể về xử lý khi hệ thống CNTT gặp sự cố, hay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ/vùng xa. Bổ sung quy định xử lý kịch bản hệ thống sự cố; cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, vùng sâu, vùng xa; thêm hồ sơ khai hải quan cho phương tiện vận tải. Tăng tính bền vững hệ thống, giảm thiểu rủi ro gián đoạn; hỗ trợ các doanh nghiệp kém điều kiện công nghệ.
Hàng quá cảnh/IP Điều 73(3) hiện hành (thời điểm trước sửa đổi) đã liệt kê các trường hợp không tạm dừng thủ tục hải quan, nhưng chưa nêu rõ “hàng hóa quá cảnh” trong nội dung tạm dừng để điều chỉnh IP. Bổ sung từ “quá cảnh” vào khoản 3 Điều 73, rà soát đồng bộ các quy định liên quan đến IP (Luật Sở hữu trí tuệ). Cho phép ngăn chặn tạm dừng thông quan cả với hàng quá cảnh nghi ngờ vi phạm IP; tăng tính đồng bộ với điều ước quốc tế.

Đánh giá tác động

  • Thương mại – thuận lợi hoá thủ tục (High): Việc loại bỏ hồ sơ giấy thừa, tăng cường hải quan điện tử và áp dụng hải quan số sẽ rút ngắn thời gian thông quan, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động XNK. Doanh nghiệp sẽ giảm chi phí tuân thủ, thuận lợi kết nối hệ thống thông quan điện tử. Đồng thời, Luật bổ sung quy định mới giúp Nhà nước quản lý tốt hơn xu hướng TMĐT toàn cầu, đảm bảo phù hợp với cam kết WTO, FTA (ví dụ: quản lý chặt hàng TMĐT song công nhận thuận lợi cho thương mại số). Mức độ tác động: Cao (thuận lợi đáng kể cho thương mại). Ảnh hưởng chính đến các nhà xuất nhập khẩu, doanh nghiệp logistics, thương mại điện tử và chủ sàn TMĐT.
  • Thuế suất và biện pháp phi thuế quan (Low/Medium): Luật không thay đổi các biểu thuế suất xuất nhập khẩu (trái ngành), nhưng hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến quản lý thuế hải quan. Ví dụ, Luật chuyển việc “thu thuế” sang cơ chế áp dụng Luật thuế chung (giảm liệt kê chi tiết), tránh mâu thuẫn khi luật thuế thay đổi. Xóa bỏ các quy định không cần thiết (như kho bảo thuế, cửa hàng miễn thuế nội địa) có thể ảnh hưởng rất nhỏ đến Nghị định thu thuế hoặc ưu đãi hiện hành. Mức độ tác động: Thấp đến Trung bình. Chủ yếu ảnh hưởng đến cơ chế quản lý, các biện pháp phi thuế quan (miễn thuế, hạn ngạch) thì ít thay đổi.
  • Thủ tục hải quan và giám sát (High): Luật sửa đổi có nhiều thay đổi lớn về thủ tục và quản lý như đề cập trên. Quy trình: doanh nghiệp sẽ khai hải quan điện tử trên hệ thống hải quan số và NSW, cơ quan hải quan tự động kiểm tra rủi ro trên cơ sở dữ liệu tích hợp, giảm trực tiếp kiểm tra giấy tờ. Cơ chế phân quyền cũng rõ ràng hơn (cơ quan hải quan địa phương tiếp tục đảm trách chính tại cửa khẩu; Bộ Tài chính quy định chi tiết nếu cần). Việc lưu trữ điện tử và chia sẻ dữ liệu đồng bộ sẽ hỗ trợ mạnh mẽ công tác quản lý rủi ro, tăng cường hậu kiểm. Mức độ tác động: Cao. Doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô lớn (thường gặp kiểm tra rủi ro) hưởng lợi nhiều nhất, nhờ giảm thủ tục và thời gian chờ. Các DN nhỏ sẽ cần nâng cấp công nghệ để khai báo điện tử nhưng được hỗ trợ khi có sự cố hệ thống.
  • Kho ngoại quan – trung chuyển – miễn thuế (Low/Medium): Việc bãi bỏ kho bảo thuế và quy định chặt chẽ hơn với kho ngoại quan, kho trung chuyển sẽ ảnh hưởng đến rất ít DN (thực tế hiện có một kho bảo thuế duy nhất, nên tác động thấp). Điều này có thể làm các DN liên quan phải điều chỉnh cơ chế vận hành (chẳng hạn doanh nghiệp sản xuất XNK có kho bảo thuế tự động phải kê khai và nộp thuế theo quy định thông thường). Các quy định mới về trung chuyển (định vị vệ tinh) và bổ sung luật về hàng quá cảnh sẽ nâng cao năng lực giám sát tuyến đường quốc tế, góp phần chống buôn lậu. Mức độ tác động: Trung bình (với một số doanh nghiệp lưu kho và vận tải quốc tế).
  • Năng lực quản lý và chống gian lận (Medium): Không cải giảm thẩm quyền của cơ quan hải quan (Điều 88 giữ nguyên), nhưng quy định mới cho phép sử dụng dữ liệu số và chia sẻ để phòng chống buôn lậu hiệu quả hơn. Cơ chế mới (như bổ sung kiểm tra TMĐT, GIS vệ tinh cho quá cảnh) giúp tăng hiệu lực quản lý. Doanh nghiệp buôn lậu có thể bị giám sát chặt hơn, trong khi DN tuân thủ hợp pháp được hưởng lợi từ thủ tục đơn giản hơn. Ảnh hưởng: Trung bình đến cao cho cơ quan hải quan (tăng công cụ), doanh nghiệp hợp pháp (tốt), và các đối tượng vi phạm (khó trốn tránh).
  • Chi phí tuân thủ (SMEs vs Large): Doanh nghiệp quy mô lớn (đã có hệ thống ERP/IT, có chi phí ban đầu đầu tư) sẽ đạt lợi ích lớn từ hải quan số (tối ưu quy trình, tự động hóa). Doanh nghiệp vừa và nhỏ được hỗ trợ công nghệ và giảm hồ sơ, nên chi phí tuân thủ cũng giảm, nhưng phải đầu tư cho công nghệ điện tử hoặc thuê dịch vụ khai hải quan. Ảnh hưởng: Trung bình. SMEs có thể gặp khó khăn tạm thời khi phải áp dụng định danh điện tử, nhưng khoản hỗ trợ và quy định hậu kiểm sẽ giúp nắm bắt quy định. DN lớn hưởng lợi ngay và quy mô hóa.
  • Số hóa, dữ liệu – an ninh hệ thống (High): Luật nhấn mạnh xây dựng hải quan số, dữ liệu liên thông, phù hợp xu thế Chính phủ điện tử. Tăng cường an ninh mạng, bảo đảm thông tin hàng hóa qua NSW. DN cần tuân thủ quy chuẩn về dữ liệu và kết nối, đồng thời tham gia các cơ chế khen thưởng/kiểm tra dữ liệu. Ảnh hưởng: Cao, đặc biệt với các DN xuất nhập khẩu sử dụng hạ tầng IT.
  • Cam kết quốc tế (Medium): Các thay đổi giúp Việt Nam cập nhật luật thuế/ngoại thương để phù hợp hơn với WTO, các FTA đã ký (ví dụ cho phép quản lý quá cảnh tương thích ASEAN, hoàn thiện xác thực hàng xuất khẩu theo Kyoto sửa đổi). Cơ chế mới cũng mở đường cho công nhận lẫn nhau trong đánh giá chất lượng. Ảnh hưởng: Trung bình đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nâng cao uy tín tuân thủ của Việt Nam.
  • Gánh nặng hành chính – Thu ngân sách – Kinh tế vĩ mô: Như phân tích ở trên, Luật nhắm giảm gánh nặng hành chính (giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian) nên tác động lên tăng trưởng thương mại là tích cực. Tác động đến thu NSNN ở phạm vi hải quan là thấp, vì Luật không thay đổi thuế xuất nhập khẩu mà chỉ bổ sung quy trình thu thuế theo luật chung, tránh chồng chéo. Về vĩ mô, tác động thấp đến trung bình (điểm tựa cho thúc đẩy xuất nhập khẩu, giảm chi phí DN, hỗ trợ cải cách số). Các nhóm chủ thể: Ngân sách giữ ổn định, cộng đồng DN (đặc biệt Xuất nhập khẩu, logistics, TMĐT) hưởng lợi lớn; cơ quan hải quan, Bộ Tài chính cần điều chỉnh bộ máy.
timeline
    title Lịch thực hiện Luật Hải quan sửa đổi
    23/08/2026 : Quốc hội thông qua Luật Hải quan (hiệu lực từ 01/3/2027)
    08-12/2026 : Cục Hải quan soạn thảo Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện
    01/03/2027 : Luật chính thức có hiệu lực (kèm theo Nghị định, Thông tư mới)
    2027 trở đi : Giai đoạn chuyển tiếp (các DN, cơ quan hoàn thiện hệ thống, đào tạo)

Khuyến nghị thực thi

  • Ngắn hạn (trước 01/03/2027): Cơ quan nhà nước – Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan phối hợp thúc đẩy xây dựng Nghị định, Thông tư hướng dẫn (thay thế NĐ 08/2015, TT 38/2015…) đảm bảo phù hợp với luật mới; đồng thời tổ chức tập huấn cho cán bộ và phổ biến kỹ thuật đến doanh nghiệp. Doanh nghiệp – rà soát và cập nhật hệ thống CNTT, dữ liệu (đăng ký eID, kết nối NSW, đào tạo nhân viên khai hải quan điện tử), tập huấn nắm quy trình mới.
  • Trung hạn (đến năm 2028): Cơ quan thực thi – Hoàn thiện hạ tầng hải quan số, thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu với các bộ ngành và hải quan nước ngoài; đôn đốc rà soát, kịp thời ban hành văn bản quy phạm bổ sung nếu phát sinh vướng mắc (ví dụ: kinh doanh hàng miễn thuế tại nội địa hay quy chế ký quỹ khi khiếu nại… đã kiến nghị). DN – Tham gia phản hồi cơ chế hậu kiểm, tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn nghề nghiệp hải quan; doanh nghiệp TMĐT phối hợp cung cấp dữ liệu cho cơ quan chức năng, áp dụng công cụ pháp định danh điện tử khi giao dịch quốc tế.
  • Dài hạn (tương lai): Chính phủ – Theo dõi hiệu quả thực thi, sẵn sàng điều chỉnh mô hình quản lý (ví dụ ứng dụng AI vào phân tích rủi ro mới); phát triển chính sách ưu đãi cho DN công nghệ cao, blockchain trong logistics. Xem xét tổng hợp thành “Luật hải quan hợp nhất” nếu bổ sung nhiều nội dung liên quan. Xã hội/Doanh nghiệp – Chủ động chuyển đổi kỹ thuật số trong sản xuất – thương mại (như ứng dụng Internet of Things, blockchain trong xuất nhập khẩu) để tận dụng ưu thế của hải quan điện tử.

Kết luận: Luật Hải quan sửa đổi năm 2026 mở ra giai đoạn mới của cơ chế quản lý hải quan – nhấn mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục và quản lý TMĐT. Mặc dù Luật tăng cường sự hiện diện pháp lý của hải quan số và giảm bớt thủ tục, việc thực hiện thành công còn phụ thuộc vào hệ thống hướng dẫn kịp thời và năng lực thích ứng của các bên liên quan. Cơ quan hải quan và doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị, đồng thời giám sát quá trình triển khai để sớm nhận diện vướng mắc, kiến nghị điều chỉnh.