Em đang có trường hợp như sau:
Công ty em ở Việt Nam ( CTY A), mua hàng của công ty B ở HONGKONG
Hàng xuất đi từ Trung Quốc . nhà sản xuất là công ty C,
INV, PKL, SC người mua - công ty A, người bán công ty B
Trên FE thể hiện:
Ô số 1: công ty D ở Trung Quốc ( vì Nhà sản xuất không có chức năng xuất khẩu)
ô số 2: công ty A ( VIỆT NAM)
ô số 7 : thể hiện nhà máy là công ty C, third party là công ty B
tick vào ô third party
TRÊN BILL, thể hiện shipper là công ty B ( HONGKONG)
Trường hợp như vậy C/O FORM E có hợp lệ không ạ.
Chào em, anh/chị đã đọc kỹ tình huống của em và đối chiếu với các quy định/rủi ro thực tế đang được cộng đồng chia sẻ trên diễn đàn. Dưới đây là phân tích cụ thể cho trường hợp của em.
Tóm tắt tình huống của em
- Mua bán: CTY A (VN) mua của CTY B (Hong Kong); hàng đi từ Trung Quốc; nhà máy sản xuất là CTY C (Trung Quốc).
- Chứng từ thương mại (INV/PKL/SC): người mua A – người bán B (HK) → hóa đơn do B phát hành.
- Trên Form E: Ô1 = CTY D (Trung Quốc) (vì C không có chức năng XK); Ô2 = A (VN); Ô7 = nhà máy C + third party B; có tick Third Party.
- Trên B/L: shipper = CTY B (Hong Kong).
Nhận định: C/O này có rủi ro CAO bị bác
Em nên thận trọng, vì cách thể hiện hiện tại không khớp chuẩn với bất kỳ mẫu hợp lệ nào và có dấu hiệu của “bẫy C/O ủy quyền” – loại mà Hải quan kiên quyết từ chối.
Theo chuyên đề Phân biệt C/O 3 bên, C/O giáp lưng và bẫy “C/O ủy quyền” và Cẩm nang đọc hiểu/kiểm tra C/O Form E – ACFTA, để C/O 3 bên (Third-Party Invoicing) hợp lệ theo Thông tư 12/2019/TT-BCT, em phải thỏa mãn:
| Chỉ tiêu |
Quy định chuẩn |
Của em |
| Ô số 1 |
Tên, địa chỉ, quốc gia của nhà máy sản xuất tại nước XK (Trung Quốc) |
Đang là CTY D (không phải nhà máy C) |
| Ô số 7 |
Ghi rõ tên + quốc gia bên thứ 3 phát hành hóa đơn |
Có ghi third party B (HK) + nhà máy C |
| Ô số 10 |
Số/ngày hóa đơn do bên thứ 3 (B) phát hành |
Cần kiểm tra kỹ có đúng số INV của B không |
| Ô số 13 |
Tick “Third Party Invoicing” |
Đã tick |
Các điểm “chí mạng” trong trường hợp của em
-
Ô số 1 sai đối tượng. Quy tắc bắt buộc Ô1 là nhà máy sản xuất (CTY C). Việc em để “CTY D đứng tên vì C không có chức năng XK” chính là hình thái dễ bị HQ coi là C/O ủy quyền – bẫy mà Công văn 5467/TCHQ-GSQL nêu rõ: người đứng tên Ô1 phải là người XK đồng thời là người phát hành hóa đơn, trừ khi là giao dịch third-party invoicing thực sự (khi đó Ô1 = nhà máy).
-
Ô1 = D không khớp với ai cả. Hóa đơn do B (HK) phát hành, nhưng Ô1 lại là D (Trung Quốc) — D không phải nhà máy, cũng không phải người phát hành hóa đơn. Vậy C/O này không nằm trong mẫu third-party invoicing (vì Ô1 ≠ nhà máy) và cũng không phải C/O xuất khẩu bình thường (vì người đứng Ô1 ≠ người phát hành hóa đơn) → HQ có căn cứ bác.
-
B/L shipper = B (HK) trong khi hàng từ Trung Quốc. Sự không nhất quán giữa B/L (shipper B-HK) và C/O (Ô1 D-Trung Quốc) khiến HQ nghi ngờ về tuyến đường đi trực tiếp (direct consignment) và bản chất giao dịch. Nếu hàng thực tế lưu kho/quá cảnh qua HK mà không có chứng từ kèm theo đúng quy định, sẽ vi phạm điều kiện vận chuyển thẳng của ACFTA.
Khuyến nghị xử lý
Cách chuẩn nhất (khuyên em làm):
- Ô số 1 phải ghi CTY C (nhà máy, Trung Quốc). Nếu C thực sự không có chức năng XK, cần có văn bản ủy thác/ủy quyền XK rõ ràng cho D, và thể hiện D là bên XK ủy quyền (ghi tại Ô7), third party B vẫn tại Ô7, Ô10 = số INV của B, Ô13 tick.
- Chuẩn bị hồ sơ chứng minh chuỗi: hợp đồng C–D (ủy thác XK) hoặc D mua của C, hợp đồng B–A, chứng từ thanh toán, chứng từ chứng minh C là nhà máy.
Hoặc (nếu D là bên XK thực sự):
- Nếu D thực sự tham gia mua bán (mua của C rồi XK), thì Ô1 = D với vai trò Exporter là hợp lý, nhưng em phải có chứng từ chứng minh D mua của C (INV/PKL giữa C–D), và B (HK) chỉ là bên phát hành hóa đơn third party. Lúc này vẫn phải đảm bảo hàng đi thẳng Trung Quốc → Việt Nam và B/L nhất quán.
Thống nhất B/L – C/O: shipper trên B/L nên khớp với bên XK thể hiện tại Ô1 (hoặc có văn bản giải trình hợp lý về việc B đứng tên shipper trong giao dịch 3 bên).
Kết luận
Với cách thể hiện hiện tại, C/O Form E của em có rủi ro cao bị Hải quan bác (do Ô1 không đúng chuẩn và mang dấu hiệu C/O ủy quyền). Em nên điều chỉnh Ô1 về nhà máy C (hoặc làm rõ vai trò XK thực sự của D bằng chứng từ) và thống nhất B/L trước khi nộp tờ khai.
Lưu ý: Đây là phân tích dựa trên kinh nghiệm và văn bản chia sẻ trên diễn đàn; quyết định cuối cùng thuộc về cán bộ Hải quan tại chi cục làm thủ tục. Em có thể tham khảo thêm chuyên đề C/O ủy quyền và Hỏi đáp C/O để nắm thêm các case tương tự.
Anh/chị em nào từng gặp tình huống “nhà máy không có chức năng XK” tương tự và giải trình thành công với Hải quan thì comment chia sẻ kinh nghiệm giúp em nhé! 
Trường hợp CÔNG TY D đứng tên shipper trên BILL luôn thì C/O có hợp lệ không ạ
Chào em,
Câu hỏi rất sắc sảo. Nếu CTY D cũng đứng tên shipper trên B/L (đồng nhất với Ô1 trên C/O), thì tình huống sẽ thay đổi như sau:
Cái được: giải quyết được điểm “chí mạng” số 3
Ở phân tích trước, mình có cảnh báo sự bất nhất giữa B/L (shipper = B/HK) và C/O (Ô1 = D/Trung Quốc) khiến HQ nghi ngờ tuyến đường đi trực tiếp. Giờ nếu shipper B/L = D (Trung Quốc) trùng với Ô1, thì chứng từ vận tải – C/O đã nhất quán, hàng hóa thể hiện đi thẳng Trung Quốc → Việt Nam. Đây là một bước cải thiện đáng kể.
Cái chưa được: gốc rễ vẫn nằm ở Ô số 1
Theo chuyên đề Phân biệt C/O 3 bên, C/O giáp lưng và bẫy “C/O ủy quyền” (Thông tư 12/2019/TT-BCT), với C/O 3 bên (third-party invoicing) chuẩn thì Ô1 bắt buộc là nhà máy sản xuất (CTY C), không phải D. Việc D đứng Ô1 vẫn chưa khớp chuẩn đó.
→ Tính hợp lệ lúc này phụ thuộc vào bản chất thực sự của D, em rơi vào 1 trong 2 trường hợp sau:
Trường hợp 1: D chỉ là đại lý đứng tên XK hộ cho C
(Nghĩa là C mới là nhà máy thật, C không có chức năng XK nên thuê D đứng tên)
- Rủi ro vẫn CAO. D dù có đứng shipper B/L đi nữa, thì D vẫn không phải người XK thực sự, cũng không phát hành hóa đơn (hóa đơn là của B – HK). Đây chính xác là hình thái “C/O ủy quyền” mà HQ kiên quyết từ chối theo Công văn 5467/TCHQ-GSQL.
- Muốn cứu, em bắt buộc có: văn bản ủy thác/ủy quyền XK rõ ràng từ C → D + chứng từ chứng minh C là nhà máy. Nhưng rủi ro bị bác vẫn rất lớn.
Trường hợp 2: D là bên XK THỰC SỰ
(Nghĩa là D mua của C rồi tự đứng ra XK bán cho A; B – HK chỉ là bên phát hành hóa đơn third party)
- Lúc này Ô1 = D (Exporter) + B/L shipper = D là NHẤT QUÁN và có thể chấp nhận được. Chuỗi: C → D (mua bán nội địa TQ) → A (NK), hóa đơn do B/HK phát hành = đúng mô hình third-party invoicing.
- Điều kiện: em phải có chứng từ chứng minh D mua của C (INV/PKL/CONTRACT giữa C–D) để chứng minh nguồn gốc hàng. Có hồ sơ này, nhiều chi cục sẽ chấp nhận Ô1 = Exporter (D).
- Tuy nhiên: vẫn có rủi ro nếu cán bộ HQ áp dụng nghiêm quy tắc “Ô1 = nhà máy (C)” cho third-party invoicing. Khi đó em cần sẵn sàng giải trình.
Kết luận & Khuyến nghị
Việc D đứng shipper B/L giúp C/O “đẹp” và nhất quán hơn so với bản gốc, nhưng chưa tự động làm C/O hợp lệ:
- Cách an toàn nhất (khuyên em): Đưa Ô1 về CTY C (nhà máy), thể hiện D là bên XK ủy quyền tại Ô7 (kèm văn bản ủy thác nếu D chỉ đứng tên), B là third party tại Ô7, tick Ô13, Ô10 = số INV của B. Lúc này B/L shipper = D vẫn hợp lý (D là bên giao hàng).
- Nếu giữ Ô1 = D: em phải chứng minh D là Exporter thực (có INV/PKL C–D), B/L shipper = D (đã có), và sẵn sàng hồ sơ giải trình với HQ.
Em có chứng từ chứng minh D mua của C (hay C chỉ thuê D đứng tên)? Câu trả lời này quyết định em đang ở Trường hợp 1 (rủi ro cao) hay Trường hợp 2 (có thể chấp nhận). Em chia sẻ thêm để mình hỗ trợ sát hơn nhé!
Tham khảo thêm chuyên đề C/O ủy quyền và Hỏi đáp C/O để nắm các case tương tự. Quyết định cuối cùng vẫn thuộc về cán bộ HQ tại chi cục làm thủ tục.