I’ll help you with this case. Let me first search the forum for relevant regulations and similar cases, and read the original topic.
I’ll research the specific rules on simple operations vs. RVC under ACFTA/Form E before answering. Let me pull the relevant legal texts.
Let me read the key reference documents on ACFTA/Form E rules and the origin matrix to give a precise answer.
Chào bạn,
Trường hợp bạn nêu là một ca rất dễ bị bác C/O Form E nếu chỉ dựa vào con số RVC 50%. Mình bóc tách từng lớp theo Thông tư 12/2019/TT-BCT (Quy tắc xuất xứ ACFTA – Form E) như sau:
1. Về mặt con số RVC – ĐẠT (trên giấy)
Theo Điều 7.1(a) và Điều 8 Thông tư 12/2019/TT-BCT:
- RVC = (FOB – VNM) / FOB × 100%
- VNM (trị giá nguyên liệu không có xuất xứ) = bột hương bò Nhật (15 USD)
- RVC = (30 – 15) / 30 = 50% ≥ 40%
→ Về công thức, tiêu chí RVC là đạt.
2. Nhưng “bẫy” nằm ở THAY ĐỔI CƠ BẢN (substantial transformation)
Đây chính là điểm bạn đang nghi ngờ – và bạn nghi đúng. Theo Điều 10 Thông tư 12/2019/TT-BCT, các công đoạn sau được coi là “gia công, chế biến đơn giản” và không được tính để xét xuất xứ:
- Bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển/lưu kho;
- Hỗ trợ gửi hàng hoặc vận chuyển;
- Đóng gói (không bao gồm đóng gói trong công nghiệp điện tử) hoặc trưng bày hàng hóa để bán.
Quy trình bạn mô tả (cân, chia định lượng, đóng chung với bột sắn vào túi, không dùng máy móc, không chế biến) về bản chất chính là đóng gói + trộn đơn giản – thuộc diện bị loại trừ theo Điều 10.
Như bài Ma Trận Quy Tắc Xuất Xứ cảnh báo: “Hàng hóa bắt buộc phải trải qua quá trình sản xuất thực chất để hình thành vật phẩm mới. Các công đoạn gia công đơn giản như… đóng gói, lắp ráp hoặc trộn đơn giản… hoàn toàn không được tính để xét xuất xứ!”
Hậu quả: Nếu tại Việt Nam chỉ làm các thao tác đơn giản nêu trên, hàng hóa không được coi là “được sản xuất” tại VN, nên dù RVC = 50% thì cơ quan cấp/kiểm tra C/O vẫn đánh giá là chưa đủ điều kiện xác định xuất xứ Việt Nam → bác Form E.
3. “Ngã rẽ” duy nhất để cứu case này: CÓ chuyển đổi mã HS (CTC)?
RVC không phải con đường duy nhất. Nếu việc trộn bột hương bò + bột sắn tạo ra một mặt hàng mới hoàn toàn với mã HS khác biệt so với bột hương bò nhập từ Nhật (ví dụ bột hương bò NK thuộc nhóm này, còn sản phẩm cuối là chế phẩm gia vị Chương 21 nhóm khác → thỏa mãn CTH 4 số), thì có thể dựa vào tiêu chí CTC thay vì RVC.
→ Quyết định nằm ở mã HS thực tế:
- Nếu bột hương bò NK và “bột hương vị bò” thành phẩm cùng mã HS (không đổi Chương/Nhóm) → không có CTC, cộng thêm chỉ làm đơn giản → BÁC chắc chắn.
- Nếu khác mã HS (do trộn tạo chế phẩm mới) → vẫn phải chứng minh công đoạn đó không phải “trộn đơn giản” mà là tạo ra vật phẩm mới.
4. Lưu ý thêm về bên ủy thác (C/O 3 bên / ủy quyền)
A ký gia công với B, rồi ủy thác cho C đứng tên XK. Với Form E (ACFTA), C/O phải do cơ quan VN cấp cho nhà XK thực tế tại VN. Việc “C đứng tên thay” cần hồ sơ ủy thác rõ ràng, nếu không rơi vào vùng rủi ro “C/O ủy quyền / 3 bên”. Bạn có thể tham khảo:
5. Khuyến nghị
- Khả năng được cấp Form E trong tình huống “chỉ gia công đơn giản + RVC 50%” là thấp / rủi ro cao.
- Muốn an toàn, cần có công đoạn chế biến thực chất bằng máy móc (nhào trộn công nghiệp, sấy, tạo hạt, định hình… tạo ra vật phẩm mới thay đổi mã HS), lúc đó mới vững chân cả về RVC lẫn CTC.
- Kiểm tra kỹ mã HS bột hương bò NK vs thành phẩm để biết có CTC hay không.
- Chuẩn bị hồ sơ chứng minh ủy thác XK giữa A – B – C minh bạch, tránh bị quy vào “C/O ủy quyền” bất hợp lệ.
Bạn có mã HS cụ thể của bột hương bò nhập khẩu và của thành phẩm không? Nếu có mình soi luôn xem có CTC (chuyển đổi mã HS) hay không để chốt case này chính xác hơn.