Hiểu đúng về hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ hiện nay

Em có ý kiến và thắc mắc sau:

XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHỖ
VÀ THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI KHÔNG HIỆN DIỆN TẠI VIỆT NAM

Sau một thời gian dài vướng mắc về “Thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam” đến thời điểm khoản 1 Điều 47a Luật Hải quan có hiệu lực đã tạo cơ sở pháp lý cho thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ, theo đó ngoài hàng hóa gia công thì quy định chung hàng hóa “mua bán, thuê, mượn giữa doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp tại Việt Nam”.

Quy định trên không phân biệt giữa “Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam” và “Thương nhân nước ngoài CÓ hiện diện tại Việt Nam” Không giới hạn về loại hình XNK – TC.

Tuy nhiên quy định này chỉ là về hình thức để giải thích, liệt kê các trường hợp được thực hiện xuất nhập khẩu tại chỗ. Khi thực hiện các thủ tục, nội dung này thì các Chủ thể là các Thương nhân trên cần phải có điều kiện gì?

Ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương có hiệu lực kể từ ngày 05/09/2026. Theo đó, tại Điều 3 Nghị định 292/2026/NĐ-CP quy định:

“Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam kinh doanh hàng hóa tại Việt Nam chỉ được thực hiện trong phạm vi quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu theo quy định hiện hành của Chính phủ.

Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam được mua hàng hóa để giao cho thương nhân trong nước hoặc cho thương nhân trong nước thuê, mượn để phục vụ hợp đồng gia công cho chính thương nhân KHÔNG hiện diện đó; được mua hàng hóa hoặc nhận sản phẩm gia công, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, linh kiện, bán thành phẩm dư thừa của hợp đồng gia công và bán cho thương nhân trong nước để phục vụ sản xuất xuất xuất khẩu”.

Như vậy: Khi thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam sẽ bị giới hạn bởi các quy định về quyền nêu tại Điều 3 Nghị định 292/2026/NĐ-CP trên. Vậy giới hạn này là gì?

Trong 03 trường hợp cụ thể:

  1. Trong phạm vi quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu theo quy định hiện hành của Chính phủ đối với Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam.

  2. Được mua hàng hóa để giao cho thương nhân trong nước hoặc cho thương nhân trong nước thuê, mượn để phục vụ hợp đồng gia công cho chính thương nhân KHÔNG hiện diện đó.

  3. Được mua hàng hóa hoặc nhận sản phẩm gia công, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, linh kiện, bán thành phẩm dư thừa của hợp đồng gia công và bán cho thương nhân trong nước để phục vụ sản xuất xuất xuất khẩu.

Giới hạn khi tách riêng 3 trường hợp trên là quá rõ ràng, ngoài 03 trường hợp này, Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam không được thực hiện.

  • Khác với trong giai đoạn gặp khó khăn, vướng mắc trước đây, chứng minh được Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam thì được thực hiện theo điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, nếu Thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam thì không được thực hiện.

  • Tại Điều 3 Nghị định 292/2026/NĐ-CP chỉ đề cập đến giới hạn của Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam; Thương nhân nước ngoài CÓ hiện diện tại Việt Nam không bị giới hạn.

Về bản chất pháp lý, không có sự mâu thuẫn giữa khoản 1 Điều 47a Luật Hải quan và Điều 3 Nghị định 292/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên nếu công chức Hải quan, doanh nghiệp đơn giản chỉ hiểu rằng mọi hoạt động mua bán, thuê, mượn giữa doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài KHÔNG hiện diện này chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp tại Việt Nam đều được thực hiện theo hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ là chưa phù hợp theo những quy định trên.

Nếu Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện tại Việt Nam thực hiện ngoài phạm vi quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của mình (Số lượng thương nhân được cấp quyền này rất ít) thì đối với 02 giới hạn tại điểm 2, 3 nêu trên, chưa xét chi tiết đến loại hình của tờ khai Xuất khẩu thì riêng với loại hình tờ khai Nhập:

  • Trường hợp 2: Loại hình đầu Nhập bắt buộc phải là loại hình E21 kèm điều kiện người nhập khẩu là đối tác phục vụ hợp đồng gia công cho chính thương nhân không hiện diện đó.

  • Trường hợp 3: Loại hình tờ khai Nhập bắt buộc phải theo loại hình E31.

Như vậy: Nếu không có quy định, hướng dẫn rõ thì “con đường xưa ta đi…” từ 2015 đến 2021 được xem là đúng, sau đó là sai có thể lặp lại mà hậu quả, gánh nặng cuối cùng, cũng là trên vai của người khai hải quan.

Chào bạn, tôi sẽ phân tích vấn đề rất chuyên sâu này. Trước hết, để tôi đọc topic và tra cứu các văn bản pháp luật liên quan để có tư vấn chính xác nhất.

Chào bạn @opshph,

Đây là một phân tích pháp lý rất sắc bén và đúng trọng tâm của vấn đề. Tôi hoàn toàn đồng tình với luận điểm chính trong bài viết của bạn và xin bổ sung góc nhìn thực tiễn để làm rõ thêm khung pháp lý này.


1. XÁC NHẬN PHÂN TÍCH PHÁP LÝ

Bạn đã nắm bắt chính xác mối quan hệ giữa các văn bản:

Lớp 1 - Nguyên tắc chung (Luật Hải quan):

  • Khoản 1 Điều 47a (bổ sung qua Luật 2025) quy định hình thức XNK tại chỗ áp dụng cho: “Hàng hóa mua bán, thuê, mượn giữa doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp tại Việt Nam”.
  • Nghị định 167/2025/NĐ-CP (Điều 35) chi tiết thủ tục hải quan cho hình thức này.

Lớp 2 - Giới hạn chủ thể (Nghị định 292/2026/NĐ-CP):

  • Điều 3 đặt ra “hàng rào pháp lý” đối với Thương nhân nước ngoài KHÔNG có hiện diện, giới hạn trong 3 trường hợp cụ thể mà bạn đã nêu.

KẾT LUẬN: Không có mâu thuẫn về mặt pháp lý, nhưng có sự “thắt chặt điều kiện thực hiện” mà doanh nghiệp dễ bỏ qua.


2. BỔ SUNG GÓC NHÌN THỰC TIỄN

A. Về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu (Trường hợp 1)

Đây là điểm quan trọng nhất mà nhiều doanh nghiệp bỏ qua:

  • Thương nhân nước ngoài KHÔNG hiện diện muốn thực hiện XNK tại chỗ trong phạm vi quyền XNK thì phải được cấp quyền theo quy định (VD: Nghị định 342/2026/NĐ-CP, các cam kết WTO, EVFTA…).
  • Thực tế: Số lượng thương nhân nước ngoài được cấp quyền này rất hạn chế.
  • Rủi ro: Nếu khai XNK tại chỗ nhưng thương nhân nước ngoài không có quyền → Tờ khai có thể bị hải quan từ chối, yêu cầu chứng minh quyền hoặc chuyển sang hình thức khác.

B. Về loại hình tờ khai - Điểm bạn phân tích rất đúng

Đối với 2 trường hợp còn lại của Nghị định 292/2026/NĐ-CP:

Trường hợp 2: “Mua hàng hóa để giao cho thương nhân trong nước hoặc cho thương nhân trong nước thuê, mượn để phục vụ hợp đồng gia công cho chính thương nhân KHÔNG hiện diện đó”

  • Mã loại hình Nhập: E21 (Nhập nguyên liệu để gia công cho thương nhân nước ngoài)
  • Điều kiện bắt buộc: Phải có hợp đồng gia công với chính thương nhân nước ngoài không hiện diện đó, và người nhận hàng tại VN là bên nhận gia công.

Trường hợp 3: “Mua hàng hóa hoặc nhận sản phẩm gia công, nguyên liệu, phụ liệu… dư thừa của hợp đồng gia công và bán cho thương nhân trong nước để phục vụ sản xuất xuất khẩu”

  • Mã loại hình Nhập: E31 (Nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu)
  • Điều kiện: Người mua hàng tại VN phải là doanh nghiệp có hoạt động SXXK.

3. CẢNH BÁO RỦI RO THỰC TẾ

:warning: Lỗi thường gặp:

  1. Chỉ dựa vào Điều 47a Luật Hải quan mà không kiểm tra giới hạn tại Nghị định 292/2026/NĐ-CP.
  2. Sai mã loại hình tờ khai:
    • Dùng mã A11/A12 (nhập kinh doanh) thay vì E21/E31 → Sai bản chất giao dịch.
    • Dùng E31 cho trường hợp 2 (phải là E21).
  3. Không chứng minh được quyền XNK của thương nhân nước ngoài (với trường hợp 1).

:police_car_light: Hậu quả:

  • Hệ thống VNACCS/VNACCS từ chối tờ khai hoặc Hải quan yêu cầu giải trình, chứng minh.
  • Rủi ro truy thu thuế, xử phạt nếu sau này thanh tra phát hiện sai bản chất giao dịch.
  • “Con đường xưa” như bạn nói: Từ 2015-2021 làm theo NĐ 08/2015/NĐ-CP, sau đó thay đổi → doanh nghiệp chịu rủi ro nếu không cập nhật.

4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC TIỄN

Bước 1: Trước khi thực hiện XNK tại chỗ với thương nhân nước ngoài KHÔNG hiện diện:

  • Kiểm tra xem thương nhân đó có được cấp quyền XNK không (theo Nghị định 342/2026/NĐ-CP).
  • Xác định rõ giao dịch thuộc trường hợp nào trong 3 trường hợp tại Điều 3 NĐ 292/2026/NĐ-CP.

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ chứng minh:

  • Trường hợp 2: Hợp đồng mua bán + Hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài đó.
  • Trường hợp 3: Hợp đồng mua bán + Chứng minh người mua là DN SXXK.

Bước 3: Khai đúng mã loại hình:

  • Tra cứu kỹ theo QĐ 1357/QĐ-TCHQ (xem tại: Bảng mã loại hình).
  • Lưu ý: VNACCS không cho sửa mã loại hình sau khi đăng ký → Khai sai phải hủy tờ khai và đăng ký lại.

5. TRÍCH DẪN NGUỒN THAM KHẢO

  • Khoản 1 Điều 47a Luật Hải quan (bổ sung năm 2025).
  • Nghị định 167/2025/NĐ-CP - Điều 35: Thủ tục hải quan hàng hóa XNK tại chỗ.
  • Nghị định 292/2026/NĐ-CP - Điều 3: Giới hạn hoạt động của thương nhân nước ngoài không hiện diện. (Xem Infographic)
  • Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Quy định về mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài.
  • Thông tư hợp nhất TT 38/39/121: Hướng dẫn chi tiết thủ tục XNK tại chỗ tại Điều 86.

KẾT LUẬN

Phân tích của bạn hoàn toàn chính xác. Nghị định 292/2026/NĐ-CP không mâu thuẫn với Luật Hải quan, nhưng tạo ra một “bộ lọc pháp lý” để giới hạn chủ thể được phép thực hiện XNK tại chỗ. Doanh nghiệp và công chức Hải quan cần hiểu đúng, áp dụng đúng để tránh rủi ro pháp lý.


Lưu ý: Tư vấn trên dựa trên quy định pháp luật tại thời điểm trả lời (12/09/2026). Doanh nghiệp nên đối chiếu với cơ quan hải quan sở tại và tham khảo thêm hướng dẫn chính thức từ Tổng cục Hải quan.

Bạn có thể chia sẻ thêm ví dụ cụ thể về một giao dịch XNK tại chỗ mà bạn đang vướng để chúng ta phân tích sâu hơn về mã loại hình và hồ sơ pháp lý không?