Bên mình nk nguyên liệu (thuộc danh mục rủi ro trung bình của BKHCN ) về để sx thành sản phẩm khác bán ra thị trường nội địa , thì không biết cái phần nl nk kia có phải làm công bố hợp quy sau khi thông quan k mn , vì bản chất lưu thông ra thị trường là 1 sp khác , ai có trường hợp giống mình tư vấn giúp với ạ , thanks all
Tôi thấy có một chủ đề rất liên quan trực tiếp đến trường hợp của bạn (vướng mắc về TT36/2026/TT-BKHCN và hợp quy). Để tư vấn chính xác, tôi đọc thêm các nguồn sau:
Chào bạn @opshph, cảm ơn câu hỏi rất thực tế và cũng khá “gai góc” này. Mình đã rà soát Thông tư 36/2026/TT-BKHCN (hiệu lực 01/7/2026), Nghị định 37/2026/NĐ-CP và đối chiếu với các case tương tự trên diễn đàn (trong đó có chính các chủ đề bạn từng hỏi). Dưới đây là phân tích cụ thể:
1. Trả lời trực tiếp: Nguyên liệu NK có phải làm công bố hợp quy không?
Kết luận: KHÔNG phải làm công bố hợp quy cho phần nguyên liệu NK đó, vì nguyên tắc cốt lõi của cả Nghị định 37 và Thông tư 36 là:
Công bố hợp quy chỉ áp dụng cho sản phẩm/hàng hóa được “đưa ra lưu thông trên thị trường” – tức là cái sản phẩm thực tế bán ra cho người tiêu dùng.
Nguyên liệu của bạn nhập về để sản xuất, bị biến đổi thành sản phẩm khác, và chính cái sản phẩm thành phẩm mới là thứ được đưa ra lưu thông – chứ không phải nguyên liệu cũ. Do đó nghĩa vụ công bố hợp quy bám vào sản phẩm thành phẩm, không bám vào nguyên liệu đầu vào.
Căn cứ pháp lý:
- Nghị định 37/2026/NĐ-CP – Điều 2.2: Tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa không có trách nhiệm tuân thủ quy định áp dụng cho hàng hóa đưa vào lưu thông nội địa.
- Nghị định 37 – Điều 3.9 định nghĩa “Lưu thông” là đưa hàng hóa ra thị trường, mua bán… và KHÔNG bao gồm hàng hóa dùng cho sản xuất/chế biến.
- Thông tư 36/2026/TT-BKHCN: công bố hợp quy thực hiện “trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường”.
Case tương tự trên diễn đàn: ở chủ đề Chính sách nhập khẩu hàng vải cuộn, bot cũng kết luận chỉ làm hợp quy cho áo thành phẩm, không làm cho vải cuộn nguyên liệu.
2.
Tuy nhiên, case của bạn “khó” hơn case vải cuộn – vì NL nằm luôn trên danh mục rủi ro trung bình
Khác với vải cuộn (không nằm danh mục), nguyên liệu của bạn thuộc Phụ lục II (rủi ro trung bình) của TT 36/2026/TT-BKHCN. Điều này sinh ra 2 vấn đề bạn cần phân biệt rõ:
| Vấn đề | Áp dụng cho NL của bạn? | Giải thích |
|---|---|---|
| (A) Kiểm tra nhà nước CL khi NK (flag trên tờ khai do HS nằm danh mục) | CÓ THỂ bị yêu cầu | Hệ thống hải quan sẽ “bắt” mã HS rủi ro trung bình. Bạn cần làm rõ với chi cục là hàng nhập để sản xuất, không tiêu thụ/lưu thông → xin miễn/không áp dụng kiểm tra CL xuất xưởng. |
| (B) Công bố hợp quy cho chính cái NL | KHÔNG | Vì NL không lưu thông ra thị trường mà bị đưa vào sản xuất. |
Thực tế: với hàng Phụ lục II (trung bình), TT 36 cho phép được tự đánh giá sự phù hợp (dựa trên kết quả phòng thử nghiệm đạt chuẩn) thay vì bắt chứng nhận bên thứ 3. Nhưng dù là tự đánh giá hay chứng nhận, đối tượng được công bố vẫn là hàng đưa ra lưu thông – tức sản phẩm thành phẩm của bạn.
3. Vậy bạn cần làm gì?
Bước 1 – Tra cứu sản phẩm thành phẩm:
- Kiểm tra xem cái sản phẩm mới bạn bán ra nội địa có nằm trong danh mục rủi ro của TT 36 (BKHCN), TT 33 (BCT), hay bộ ngành khác không.
Nếu thành phẩm CÓ thuộc danh mục → bạn làm công bố hợp quy cho thành phẩm trước khi bán ra thị trường.
Nếu thành phẩm KHÔNG thuộc danh mục nào → không cần làm hợp quy gì cả (cả NL và thành phẩm).
Bước 2 – Xử lý tại khâu NK nguyên liệu:
- Khi khai tờ khai nhập nguyên liệu, hệ thống có thể flag yêu cầu kiểm tra CL theo TT 36. Bạn nên giải trình rõ mục đích “nhập để sản xuất, không lưu thông” và trao đổi trực tiếp với Chi cục Hải quan + Sở KH&CN sở tại để được hướng dẫn cụ thể (vì TT 36 rất mới, các chi cục chưa có hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất cho tình huống “NL rủi ro trung bình nhập để SX”).
Bước 3 – Lưu giữ hồ sơ (quan trọng cho hậu kiểm):
- Tờ khai NK, hợp đồng, định mức sản xuất, nhật ký xuất-nhập-tồn, biên bản nghiệm thu thành phẩm… để chứng minh nguyên liệu thực sự đi vào sản xuất, không bán ra/thanh lý dưới dạng nguyên liệu.
4. Lưu ý “chết người” để tránh rủi ro
- Tuyệt đối không đem chính cái NL đó bán ra thị trường (dưới dạng NL) khi chưa công bố hợp quy – lúc đó nó trở thành “hàng lưu thông” và bị điều chỉnh đầy đủ.
- Nếu sau này bạn thanh lý/chuyển tiêu thụ nội địa phần nguyên liệu dư thừa (không đưa vào sản xuất) → tại thời điểm đó phải làm kiểm tra CL & công bố hợp quy cho NL.
- Vì TT 36 chưa có văn bản hướng dẫn riêng cho tình huống “NL rủi ro trung bình nhập để SX thành phẩm khác”, bạn nên xin xác nhận bằng văn bản (email/công văn) từ Cục Hải quan/Sở KH&CN trước khi nhập lô đầu tiên, tránh kẹt tờ khai.
Chủ đề tham khảo trên diễn đàn
- Thông tư 36/2026/TT-BKHCN – Danh mục hàng hóa rủi ro cao, trung bình (BKHCN)
- Nghị định 37/2026/NĐ-CP – Quy định chất lượng sản phẩm, hàng hóa
- Vướng mắc thông tư 36/2026/TT-BKHCN về hợp quy (case DNCX của chính bạn) – cùng logic “hàng không lưu thông → không hợp quy”
- Chính sách nhập khẩu hàng vải cuộn – cùng nguyên tắc “chỉ hợp quy thành phẩm”
Tóm lại: Nguyên liệu NK rủi ro trung bình của bạn không phải làm công bố hợp quy (vì không lưu thông, bị đưa vào sản xuất). Nghĩa vụ hợp quy (nếu có) nằm ở sản phẩm thành phẩm – bạn tra cứu xem thành phẩm có thuộc danh mục rủi ro không. Riêng khâu NK, do HS nằm danh mục nên bạn nên giải trình rõ mục đích sản xuất với Hải quan/Sở KH&CN để tránh bị “kéo” vào kiểm tra CL xuất xưởng.
Bạn có thể chia sẻ cụ thể tên/mã HS nguyên liệu và sản phẩm thành phẩm là gì không? Mình sẽ tra giúp xem cả 2 có nằm chính xác Phụ lục nào của TT 36/33 hay không, để tư vấn sát hơn.