Chào bạn, mình đã xem qua câu hỏi của bạn về việc nhập thiết bị chia mạng (HS 8517.62.99) có cần xin giấy phép mật mã dân sự hay công bố hợp quy hay không.
Để trả lời chính xác và cập nhật theo quy định hiện hành, mình sẽ tìm kiếm các thảo luận liên quan trên diễn đàn cũng như các văn bản/chính sách chuyên ngành tương ứng.
Chào em @opshph, anh/chị đã tìm hiểu qua các văn bản và thảo luận liên quan trên diễn đàn, chia sẻ em một số ý chính như sau nhé:
1. Về mã HS 8517.62.99 – “thiết bị chia mạng”
Mã 8517.62 là nhóm “Thiết bị thu phát hoặc truyền sóng, có dây, dùng cho mạng truyền thông” (bao gồm hub, switch, router…). Mã 8517.62.99 là mã mở rộng (other) dành cho các thiết bị chia mạng không thuộc các mã chi tiết hơn.
2. Có cần Giấy phép mật mã dân sự (MMDS) không?
Dựa trên Nghị định 211/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động mật mã dân sự và Công văn 18648/CHQ-GSQL ngày 08/07/2026 hướng dẫn khai báo hải quan đối với sản phẩm mật mã dân sự (áp dụng từ 13/07/2026 – xem tại topic này), nguyên tắc là:
- Chỉ cần xin Giấy phép / thực hiện quản lý MMDS khi thiết bị có chứa chức năng mật mã dân sự (mã hóa thông tin) thuộc Phụ lục quản lý của Nghị định 211/2025.
- Một thiết bị chia mạng thông thường (hub, switch, unmanaged switch, bộ chia mạng cơ bản) không có chức năng mã hóa (encryption) thì không thuộc diện xin Giấy phép mật mã dân sự.
Em cần xác định rõ: thiết bị em nhập là loại nào (switch quản lý được / unmanaged switch / router / access point…)? Nếu có tính năng VPN, mã hóa, firewall… thì mới dính tới MMDS. Tham khảo thêm chủ đề Nhập khẩu thiết bị có chứa mật mã dân sự (MMDS) và Mã HS cho router tường lửa công nghiệp để so sánh.
3. Về Công bố hợp quy
- Các thiết bị mạng (switch, router, hub…) thường thuộc danh mục an toàn điện / EMC hoặc viễn thông phải chứng nhận hợp quy / công bố hợp quy theo quy định của Bộ TT&TT (QCVN) và an toàn điện (QCVN của BCT).
- Tuy nhiên, từ 01/07/2026, cơ chế kiểm tra chuyên ngành chuyển sang mô hình phân lớp rủi ro theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP. Nhiều mặt hàng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Em nên tra cứu kỹ mã cụ thể và đối chiếu với Thông tư 36/2026/TT-BKHCN và Thông tư 33/2026/TT-BCT để biết mức độ rủi ro và hình thức quản lý áp dụng cho mã 8517.62.99.
Tóm lại
- Giấy phép mật mã dân sự: Không cần, trừ khi thiết bị có chức năng mã hóa/mật mã (em cần mô tả kỹ thuật cụ thể để khẳng định).
- Công bố hợp quy: Có thể vẫn phải thực hiện (tùy tính năng và theo cơ chế phân lớp rủi ro mới) – em nên đối chiếu mã vào phụ lục các Thông tư nêu trên.
Em bổ sung thêm tên thương mại, model và tính năng (có mã hóa/không, managed/unmanaged…) của thiết bị để anh/chị tư vấn chính xác hơn nhé. Nếu em đang băn khoăn cách khai “mã văn bản pháp quy” trên tờ khai (như trường hợp thẻ RFID em hỏi trước đó tại topic này), anh/chị có thể hỗ trợ thêm.